zondag 6 september 2009

Thác Pongour

Thác Pongour hùng vĩ

Pongour là ngọn thác nổi tiếng đẹp mơ màng thuộc vùng Nam Tây Nguyên, từng được người Pháp đánh giá là ngọn thác “hùng vĩ nhất Đông Dương”. Ảnh thác nước được bạn Le Van Son chia sẻ.

Khoảng 60 năm về trước, vua Bảo Đại lúc đứng bên Pongour đã phán rằng “Nam thiên đệ nhất thác” (nghĩa là thác nước hùng vĩ nhất trời Nam). Đến năm 2.000, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch công nhận nơi đây là di tích lịch sử và thắng cảnh quốc gia.

Thác cách Đà Lạt chừng 50km, nên nếu ghé Đà Lạt, du khách thường chọn Pongour là địa điểm dừng chân thú vị. Nếu đi từ TP HCM trên quốc lộ 20 hướng Đà Lạt đến cây số thứ 260, du khách rẽ trái đi thêm 6 km trên con đường trải nhựa, hai bên đường là khung cảnh khá yên bình và nên thơ. Người dân tộc địa phương còn gọi là thác Bảy Tầng bởi dòng thác chảy qua hệ thống đá bậc thang 7 tầng với độ cao gần 40m.

Khung cảnh thiên nhiên nơi đây vẫn còn lưu giữ được nét hoang sơ. Bao quanh thác là khu rừng nguyên sinh có diện tích khoảng 2,5 ha với thảm thực vật đa dạng, phong phú. Nơi đây còn rất nhiều cây cổ thụ, muông thú sinh sống. Thấp thoáng đâu đó bạn có thể bắt gặp những giỏ lan rừng đẹp mắt.

Cách chân thác khoảng 200m về phía hạ nguồn là vách đá sừng sững dài khoảng 100m, cao hơn 70m. Vách đá phủ rêu, lởm chởm dễ cây nhìn tựa bức tường thành bị lãng quên hàng thế kỷ. Nơi đây được gọi là thảm én bởi bề mặt của vách đá có nhiều khe nên hàng năm khoảng đầu hè có hằng sa số chim én chọn nơi đây làm tổ và sinh sống. Đến hết mùa hè, đàn chim én lại bay trở về quê hương.

Nếu để ý du khách sẽ thấy trên bờ thác có ngôi nhà nhỏ gọi là Vọng lâu nơi ngày xưa vua Bảo Đại nghỉ chân ngắm thác, thưởng ngoạn thiên nhiên trong những dịp đi du hành và săn bắn.
So với các hệ thống thác dọc quốc lộ 20 thì Pongour vẫn là thác được nhiều du khách ghé thăm nhất.

Bài và ảnh: Lê Văn Sơn
© Copyright 1997-2009 Vnexpress.net
*

Thác Pongour - Hình ảnh

Dù không còn hùng vĩ như xưa
Thác vẫn mang vẻ đẹp nên thơ
*
Nước tung trắng xoá
*
Thác có nhiều tầng
*
Vách đá sừng sững
*
Con người bé nhỏ trước thiên nhiên

Dưới chân thác
*
Thiên nhiên hoang sơ

Quang cảnh trên con đường vào thác
*
Làng quê yên bình

Rừng nguyên sinh

Với thảm thực vật phong phú
*

maandag 3 augustus 2009

Thung lũng Tình yêu

.
Thung lũng tình yêu (06/01/09)

Nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt chừng 6km về hướng đông bắc, chìm sâu bên những sườn đồi với rừng thông quanh năm xanh biếc, Thung lũng Tình yêu là một trong những thắng cảnh thơ mộng và trữ tình của thành phố du lịch Đà Lạt.

Hiện nay có nhiều cách giải thích ý nghĩa cụm từ Thung lũng Tình yêu.
* Thoạt đầu người Pháp gọi nơi này là Vallée d’Amour (Thung lũng Tình yêu), đến thời Bảo Đại được đổi tên thành Thung lũng Hoà bình. Năm 1953, Chủ tịch Hội đồng Thị xã Đà Lạt lúc bấy giờ là Nguyễn Vỹ đã đổi tên thành Thung lũng Tình yêu, tên gọi này tồn tại mãi cho đến ngày nay.
* Trong nửa đầu thế kỷ XX, thung lũng gần dinh Bảo Đại (dinh III) được gọi là Vallée d’Amour (Thung lũng Tình yêu), sinh viên Viện Đại học Đà Lạt nhận thấy thung lũng gần ấp Đa Thiện là nơi hẹn hò lý tưởng của thanh niên nên cũng đặt tên là Thung lũng Tình yêu.
* Hướng đạo sinh thường cắm trại ở thung lũng Đa Thiện và đặt tên Thung lũng Tình yêu với ý nghĩa tình yêu thiên nhiên, đất nước.

Năm 1972, một đập ngăn nước được xây dựng, chắn ngang dòng suối trong thung lũng tạo ra một hồ nước rộng 13ha để chứa nước phục vụ sản xuất cho vùng Đa Thiện và tạo nên một thắng cảnh thơ mộng với mặt hồ phẳng lặng giữa những đồi thông trùng điệp, hấp dẫn du khách gần xa, nhất là những lứa đôi ở khắp mọi miền đất nước.

Đập nước này thường gọi là Đập III Đa Thiện vì gắn liền với hồ Đa Thiện số 3. Trước đó, tại ấp Đa Thiện, gần đường Nguyên Tử Lực, đã xây dựng 2 đập nước khác (Đập I và Đập II Đa Thiện) nhỏ hơn dùng cho trồng rau .

Khu vực chung quanh hồ rộng 229ha thuộc Khu du lịch Thung lũng Tình yêu.

Năm 1985, Thung lũng Tình yêu được Công ty Dịch vụ Du lịch Thanh niên Đà Lạt quản lý và kinh doanh du lịch. Bằng sự nỗ lực của thế hệ trẻ, thắng cảnh Thung lũng Tình yêu từng bước được tôn tạo, nâng cấp nhưng vẫn giữ được nét nguyên sơ của mình. Với những dịch vụ phục vụ cho du khách tham quan, vui chơi giải trí như cưỡi ngựa, đi dạo vòng hồ Đa Thiện (5km), đi canô trên hồ Đa Thiện, tổ chức picnic, cắm trại, đốt lửa trại, sinh hoạt dã ngoại, chụp hình, quay phim, mua sắm hàng lưu niệm,… Thung lũng Tình yêu là một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn đã đón trên nửa triệu du khách trong nước và quốc tế đến tham quan hằng năm.

Du khách có thể men theo những lối mòn hoặc leo cả trăm bậc cấp và đi qua những cổng hoa màu sắc rực rỡ để lên đồi Vọng Cảnh (độ cao 1565m so với mặt biển). Từ đây, Thung lũng Tình yêu hiện ra dưới mắt du khách đẹp tựa như một bức tranh sinh động, lãng mạn với những con thiên nga và những cánh buồm thấp thoáng trên mặt hồ.

Nhân dịp kỷ niệm 110 năm Đà Lạt hình thành và phát triển, sáng ngày 29-4-2003 và chiều ngày 30-4-2003, Lễ hội văn hoá các dân tộc Trường Sơn - Tây Nguyên diễn ra tại Thung lũng Tình yêu đã thu hút trên 20.000 lượt du khách đến tham quan.

Nhà trưng bày hiện vật “Đà Lạt xưa và nay”, khai trương ngày 26-4-2006, giới thiệu trên 2.000 hiện vật được cư dân Đà Lạt sử dụng từ đầu thế kỷ XX đến nay.

Du khách đến Đà Lạt thường ghé lại thăm Thung lũng Tình yêu không những chỉ vì địa danh lãng mạn mà còn vì vẻ đẹp quyến rũ của cảnh quan thiên nhiên. Thung lũng Tình yêu là một thắng cảnh du lịch ngày càng trở nên quen thuộc, in đậm trong tâm thức của nhiều người, kể cả du khách gần xa.

Với vẻ đẹp tự nhiên và những giá trị văn hoá vốn có, Thung lũng Tình yêu đã được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận là thắng cảnh du lịch cấp quốc gia vào ngày 31-8-1998.

LỘ TRÌNH
1) Khu Hoà Bình – Nguyễn Văn Trỗi (tham quan chùa Linh Sơn) – Bùi Thị Xuân – Phù Đổng Thiên Vương – Mai Anh Đào (tham quan Đồi Mộng Mơ, XQ sử quán, Thung lũng Tình yêu) : 5,6km.
2) Khu Hoà Bình – Phan Bội Châu – Đinh Tiên Hoàng – Phù Đổng Thiên Vương – Mai Anh Đào: 6km.
3) Khu Hoà Bình – Lê Đại Hành – Nguyễn Thái Học – Bà Huyện Thanh Quan (tham quan Vườn hoa thành phố) – Trần Nhân Tông (tham quan Đồi Cù, Trường Đại học Đà Lạt) – Phù Đổng Thiên Vương – Mai Anh Đào : 7km.
4) Khu Hoà Bình – Lê Đại Hành – Nguyễn Thái Học – Bà Huyện Thanh Quan (tham quan Vườn hoa thành phố) – Nguyên Tử Lực – Mai Anh Đào (tham quan Thung lũng Tình yêu) : 6,2km.

Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
*

Thung lũng Vàng

.
Thung lũng vàng (06/01/09)

Thung lũng Vàng nằm gần đường Ankroet, cách Đà Lạt 14km về hướng tây-bắc.

Năm 1999, Kỹ sư Trần Đình Lãnh – Giám đốc Công ty cấp nước Lâm Đồng có ý định tạo một vườn cảnh rộng 3ha để công nhân Nhà máy nước Suối Vàng có nơi thư giãn sau những giờ lao động mệt nhọc. Không ngờ, nhiều người khen vườn cảnh đẹp. Sau đó, Nhà máy nước Suối Vàng được giao quản lý bảo vệ hơn 174ha rừng thông tại tiểu khu 12 (khu vực xung quanh Nhà máy nước Suối Vàng) nên ông đề nghị với Công đoàn Nhà máy nước Suối Vàng xây dựng Khu du lịch sinh thái. Tập thể nhất trí, mỗi năm đầu tư dần dần. Đồ án quy hoạch chi tiết do Kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thành và Kiến trúc sư Lê Văn Khải của Công ty Xây dựng Kiến trúc miền Nam chủ trì thiết kế.

Ngày mồng 1 Tết Ất Dậu (2005), Thung lũng Vàng chính thức khai trương.

Trước đây, đường đến Nhà máy nước Suối Vàng, Nhà máy thuỷ điện Ankroet và hồ Dankia

Suối Vàng rất khó đi, nhưng từ năm 2003, đường Trần Văn Côi, Ankroet được tráng nhựa tạo điều kiện thuận tiện cho du khách đến tham quan Thung lũng Vàng.

Công trình kiến trúc kỳ lạ đầu tiên là chiếc cổng đồ sộ làm bằng sắt tận dụng của đường ống nước.

Xe tiếp tục chạy giữa rừng thông thẳng tắp che phủ thảm cỏ mượt mà, xanh tươi.

Thung lũng Vàng gồm nhiều cụm đảo bonsai với những cây cảnh quý hiếm, tạo dáng điêu luyện và kỳ hoa dị thảo không thấy trong các vườn hoa khác ở Đà Lạt.

Ý tưởng sắp đặt trong Thung lũng Vàng rất độc đáo:

* Thác nước nhân tạo có dòng nước chảy từ vườn đá Tứ Linh (long, lân, quy, phụng). Dưới chân thác là một guồng nước gợi nhớ đến những guồng nước trên sông Trà Khúc ở miền Trung hay núi rừng Việt Bắc, Tây Bắc. Xa hơn là chiếc cầu tre lắc lẻo - hình ảnh quen thuộc của đồng quê Nam Bộ.

* Một bức tượng lớn mang hình dáng một vị thần đang gieo hạt.
* Khu vui chơi giải trí mang tên Thái Cực, hồ nước mang tên Lưỡng Nghi, những viên đá lót trên lối đi được xếp theo quẻ “Thiên hoả đồng nhân” trong Kinh Dịch.
* Một phiến đá hình bảo kiếm có khắc dòng chữ “Nẻo về của ý” kiểu thư pháp nhắc nhở đến ý tưởng đầu tiên hình thành Thung lũng Vàng.

Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
*

Thác Pongour

Hình Thác Pongour (Dalat)


Hồ Tuyền Lâm

Hồ Tuyền Lâm (12/01/09)

Khu vực hồ Tuyền Lâm cách trung tâm thành phố Đà Lạt 6km về phía nam, có khí hậu trong lành, không gian yên tĩnh, cảnh quan tự nhiên (rừng, núi, hồ, suối, thác,…) đa dạng, quyến rũ và có nhiều yếu tố nhân văn hấp dẫn, hứa hẹn trở thành khu du lịch có quy mô lớn với nhiều loại hình du lịch đặc sắc như: tham quan thắng cảnh, cắm trại, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, đi bộ, leo núi, câu cá, thăm căn cứ cách mạng, lễ hội - tín ngưỡng, vui chơi giải trí, thể thao,… đặc biệt là loại hình du lịch sinh thái.

HỒ TUYỀN LÂM TRONG QUÁ KHỨ
Năm 1930, ông Farraut – một người Pháp sinh sống lâu năm ở Đà Lạt – đã thuê gần 3.000ha đất (khu vực hồ Tuyền Lâm bây giờ) làm nông trại, chủ yếu nuôi heo, gà, sau đó nuôi cừu, bò.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ xâm lược, khu vực suối Tía và núi Voi là căn cứ quan trọng nhất của phong trào cách mạng thành phố Đà Lạt, thường gọi là chiến khu suối Tía hay chiến khu Quang Trung. Khu căn cứ này của Thị uỷ Đà Lạt có vai trò là nơi chỉ đạo các phong trào đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang của quân dân thị xã Đà Lạt, nơi dừng chân tập kết, huấn luyện các lực lượng vũ trang, các đội công tác, là bàn đạp để các lực lượng tấn công vào Đà Lạt và cơ động đánh địch ở các mặt trận trong tỉnh Tuyên Đức.

Từ năm 1982 đến năm 1987, Ty Thuỷ lợi Lâm Đồng, được Bộ Thuỷ lợi đầu tư, đã xây dựng một đập nước dài 235m chắn ngang suối Tía (Da Trea) tạo thành hồ Quang Trung, về sau đổi tên là hồ Tuyền Lâm (tuyền: suối, lâm: rừng).

Ngày 30-8-1998, Bộ Văn hoá - Thông tin ra Quyết định số 1811/QĐ/BT công nhận hồ Tuyền Lâm là Di tích Lịch sử - Văn hoá.

HỒ TUYỀN LÂM HIỆN NAY
Hồ Tuyền Lâm có diện tích hơn 350ha, độ sâu có nơi trên 30m. Nước hồ chảy qua một đập tràn 6 bậc và cung cấp nước tưới cho vùng đất dưới chân đèo Prenn (huyện Đức Trọng) vào mùa khô.

Sau khi vãn cảnh Thiền viện Trúc Lâm, du khách có thể mua vé du thuyền đi dọc hồ và tham quan các điểm du lịch nằm phía cuối hồ như khu du lịch Đá Tiên, khu du lịch dã ngoại Nam Qua, khu dã ngoại Dalat tourist để thưởng thức các món ăn đặc sản Đà Lạt, rượu cần, xem múa hát lễ hội cồng chiêng, cắm trại trong rừng, cưỡi ngựa, voi,...

Thiền viện Trúc Lâm toạ lạc trên núi Phụng Hoàng cao 1.446m ở phía đông nam hồ Tuyền Lâm.

Thiền viện Trúc Lâm được khởi công xây dựng ngày mồng 8 tháng 4 năm Quý Dậu (28-51993), khánh thành ngày mồng 8 tháng 2 năm Giáp Tuất (19-2-1994).

Khu ngoại viện gồm có: ba cổng tam quan, chánh điện, lầu chuông, lầu trống, tham vấn đường, thư viện, phòng trưng bày văn hoá phẩm Phật giáo, nhà khách, hồ Tĩnh Tâm, đồi Thanh Lương.

Bên cạnh khu ngoại viện là khu nội viện.

Ngoài thời gian tu học, khôi phục phái thiền Trúc Lâm thời Trần, các thiền sinh còn chăm sóc vườn hoa, cây cảnh, quản lý và bảo vệ trên 20ha rừng thông, trồng cây gây rừng, tạo cảnh quan xinh đẹp mang sắc thái văn hoá dân tộc.

Từ sân trước chánh điện, du khách nhìn thấy dãy núi Voi Phục với đỉnh Pin Hatt cao 1.691m.

Những đồi thông xanh, mặt nước hồ Tuyền Lâm thấp thoáng qua hàng cây.

Thác Bảo Đại là một thác nhỏ, tương truyền Bảo Đại đã dừng chân trong những chuyến đi săn.

Khu du lịch Nam Qua có những nhà hàng, ki-ốt lợp tranh phục vụ du khách nghi ngơi, ăn uống trên chặng đường du lịch quanh hồ Tuyền Lâm.

Khu du lịch Đá Tiên - Núi Voi do Công ty Du lịch dã ngoại Phương Nam tổ chức là một khu du lịch dã ngoại liên hợp: du khách bơi thuyền, câu cá, cưỡi voi, đi săn, leo núi, nghỉ ngơi trong nhà sàn, đốt lửa trại, xem trình diễn văn nghệ của đồng bào dân tộc bản địa,…

Khu du lịch dã ngoại Đá Tiên có một nhà sàn dài, một số nhà sàn nhỏ lợp tranh, nhiều tảng đá lớn, trong đó có một tảng đá mang hình dáng ông tiên.

Từ bến thuyền gần đập hồ Tuyền Lâm đến Đá Tiên, thuyền đi mất khoảng 15 phút, các điểm du lịch phía cuối hồ mất khoảng 25 phút.

HỒ TUYỀN LÂM TRONG TƯƠNG LAI
Trong tương lai, Khu du lịch hồ Tuyền Lâm sẽ trở thành một khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, hội thảo hiện đại, sang trọng, đồng thời vẫn giữ nguyên môi trường vốn có. Ý tưởng này đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng ban hành Quyết định phê duyệt dự án điều chỉnh quy hoạch Khu du lịch hồ Tuyền Lâm đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.

Theo dự án này, Khu du lịch hồ Tuyền Lâm có diện tích 2.827ha với các phân khu chức năng:
1. Khu biệt thự du lịch:150ha.
2. Khu nghỉ dưỡng cao cấp: 550ha.
3. Khu vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng, hội nghị, hội thảo: 346ha.
4. Khu trung tâm đón tiếp: 29,6ha.
5. Khu du lịch tôn giáo: 26ha.
6. Khu sân golf: 160,2ha.
7. Khu du lịch sinh thái: 1.136,51ha.
8. Khu du lịch phục vụ giáo dục, đào tạo: 50ha.
9. Mặt nước hồ Tuyền Lâm và hồ sinh học: 365ha.
10. Nhà thuỷ tạ.
11. Hạ tầng công cộng: 13,69ha.

Đến nay, Khu du lịch hồ Tuyền Lâm đã có 27 nhà đầu tư, tổng số vốn đầu tư đăng ký là 4.841 tỷ đồng, đầu tư vào các dự án từ 3 sao trở lên. Đến năm 2010, Khu du lịch hồ Tuyền Lâm sẽ là một khu du lịch quốc gia bền vững có quy mô tầm cỡ khu vực và quốc tế với những sản phẩm du lịch chính như:
* Du lịch nghỉ dưỡng cao cấp
* Du lịch vui chơi giải trí
* Du lịch sinh thái
* Hội nghị – hội thảo

LỘ TRÌNH
* Khu Hoà Bình – Lê Đại Hành – Trần Quốc Toản – Hồ Tùng Mậu – đường 3 tháng 4 – đèo
Prenn – Trúc Lâm Yên Tử – hồ Tuyền Lâm
* Khu Hoà Bình – đường 3 tháng 2 – Pasteur – Triệu Việt Vương – Trần Thánh Tông – Trúc
Lâm Yên Tử – hồ Tuyền Lâm

Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
*

Hồ DanKia

Hồ ĐanKia - Suối vàng (12/01/09)

Hồ Đan Kia - Suối Vàng nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt 17km về hướng tây-bắc. Sông Đạ Đờng (Đa Dâng, Da Deung; ở hạ lưu gọi là sông Đồng Nai) bắt nguồn gần đỉnh núi Chư Yan Kao (2006m) thuộc xã Đạ Long, huyện Lạc Dương. Sau khi hợp lưu với suối Da Lien Deur về phía tả ngạn, sông Đạ Đờng đổ vào hồ Đan Kia (Đăng Kia, Dangkia, Dankir, Dankia) rộng 2,2km2 và hồ Suối Vàng (hồ Ankroet) rộng 0,28km2, rồi xuôi vào Nam.

Trước năm 1919, trên cao nguyên Lang Biang có nhiều buôn của người Lạch (Lac, Lat, M’Lates) và người Chil (Chin, Cil), buôn lớn nhất là buôn Đan Kia ở ven sông Đạ Đờng. Trên bản đồ Đông Dương in trong hồi ký của Toàn quyền Paul Doumer không thấy ghi Dalat nhưng có địa danh Dangkia.

Đan Kia xuất phát từ Dang Ja có nghĩa là đồi cỏ tranh.

Chiều ngày 21-6-1893, sau khi đến khu vực Đà Lạt hiện nay, bác sĩ Alexandre Yersin đã vượt sông Đạ Đờng, đến Đan Kia và ngủ lại đêm ở đây rồi trở về Riong (thuộc huyện Lâm Hà ngày nay).

Nhận được thư riêng của Doumer, ngày 19-7-1897, bác sĩ Yersin viết thư giới thiệu cao nguyên Lang Biang để thành lập nơi nghỉ dưỡng.

A. Berjoan, công sứ – thị trưởng Đà Lạt, cho biết cụ thể nơi nghỉ dưỡng là Đà Lạt – Đan Kia.
Theo bác sĩ Etienne Tardif, bác sĩ Alexandre Yersin đã đề nghị Đan Kia.

Từ tháng 10 năm 1897, Doumer cử một phái đoàn quân sự nghiên cứu tìm một con đường dễ dàng nhất đi từ Nha Trang lên cao nguyên Lang Biang. Phái đoàn đặt dưới sự chỉ huy của đại uý pháo binh Thouard.

Sau một thời gian dựng lều sống bên bờ suối Cam Ly, đoàn trú ngụ tạm thời ở Đan Kia. Ở Đan Kia, phái đoàn được thuận lợi là ở trung tâm của toàn vùng, rất tiện cho việc vẽ bản đồ và đổi vật dụng để lấy lương thực.

Sau 11 tháng khảo sát, vào tháng 9 năm 1898, phái đoàn trở về lại vùng biển, chỉ để Missigbrott ở lại, lập một vườn rau và chăn nuôi một ít gia súc. Đây là bước đầu của nông trại Đan Kia.

Năm 1898, một trạm nông nghiệp và một trạm khí tượng được thiết lập ở Đan Kia. Trạm nông nghiệp có diện tích 16,6706ha, trồng thử nghiệm nhiều giống rau, hoa, cây ăn trái, cây lương thực, cây công nghiệp và nuôi bò, cừu.

Ngày 8-6-1899, bác sĩ Tardif tháp tùng đại úy Guynet lên Lang Biang.

Năm 1909, trạm khí tượng được chuyển từ Đan Kia về Đà Lạt. Ở Đan Kia chỉ còn một nông trại nuôi bò và cừu cung cấp sữa, bơ và phó-mát cho các khách sạn và dân cư ở Đà Lạt.

Thỉnh thoảng, những đoàn du khách dùng ngựa hay kiệu đi từ Đà Lạt đến Đan Kia, thăm buôn Beneur, thác Ankroet, rồi leo núi Lang Biang hay mạo hiểm đi ngang qua vùng săn bắn, đến hồ Lak, Buôn Ma Thuột.

Ngày 6-1-1916, tỉnh Langbian được thành lập, vùng Đan Kia nằm trong tỉnh Langbian.

Ngày 31-10-1916, trung tâm đô thị Đà Lạt được thành lập, vùng đất còn lại của tỉnh Langbian thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng.

Tháng 10 năm 1942, nhà máy thủy điện Ankroet (Suối Vàng) được khởi công xây dựng. Đập nước Suối Vàng có đáy rộng 8m, cao 12m, dài 150m. Đường hầm dài 510m. Nhà máy có 2 tổ máy 500 mã lực, công suất: 1.200kW. Kinh phí: khoảng 1.700.000 đồng.

Năm 1944, A. Berjoan đã viết trong tạp chí Indochine (Đông Dương) bài Ankroet, khu du lịch, nghỉ dưỡng, trung tâm chăn nuôi và trồng trọt:

“…Cảnh quan thung lũng sông Đạ Đờng rất hấp dẫn. Những ngọn đồi rất xanh với những cụm rừng thông bao quanh dòng sông, thác nước, mở một con đường về hướng tây. Rất khó diễn tả sự hài hòa của cảnh quan có thể so sánh với phong cảnh tuyệt mỹ nhất của núi Alpes hay Pyrénées.

Con đường mới (Cam Ly – Ankroet ngày nay) sẽ khai thông thung lũng này rất giàu tiềm năng du lịch và là một cánh đồng rộng dành cho chăn nuôi và trồng rau.

Khu nghỉ dưỡng trên cao nguyên được tập trung xung quanh Ankroet, quanh hồ và thác nước. Có thể xây dựng những căn nhà kiểu nông thôn, vài khách sạn gợi nhớ đến những nhà trọ vùng núi. Điện nước có ngay tại chỗ và phân phối dễ dàng.

Những ai thích sự yên tĩnh và mơ mộng tìm thấy ở đây mảnh đất lý tưởng hơn Đà Lạt đã mang dáng dấp một thành phố sôi động. Họ có thể đi dạo trên những con đường mòn dẫn đến Yeng-Glé, Benom Da Tren. Hồ Ankroet giúp cho những người yêu thích nước bơi lội, chèo thuyền buồm.

Những ngọn đồi cỏ cung cấp cỏ tươi cho nhiều đàn gia súc. Đất đai trong thung lũng chỉ còn chờ công sức của con người để sản xuất rau và trái cây.

Tuy nhiên, cần phải chú ý rằng đất đồi không phì nhiêu do tập quán phát rẫy và, thay vì đồng cỏ, chỉ có cỏ tranh. Đất dưới thung lũng chua cần bón nhiều vôi và phân.

Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nông dân sẽ làm cho vùng Ankroet trở thành vùng đất chăn nuôi và trồng trọt.”
*
Trước năm 1958, vùng Đan Kia – Suối Vàng nằm trong tổng Lạch thuộc thị xã Đà Lạt. Ngày 30-6-1958, tỉnh Tuyên Đức được thành lập gồm đô thị Đà Lạt và 3 quận: Đơn Dương, Lạc Dương và Đức Trọng. Vùng Đan Kia – Suối Vàng nằm trong xã Lat, quận Lạc Dương.

Năm 1962 có dự án thành lập một casinô dành cho người nước ngoài ở Suối Vàng, biến nơi đây thành Monaco ở Việt Nam. Theo dự án này, từ sân bay quốc tế Liên Khương sẽ có một xa lộ dẫn đến Suối Vàng, trên xa lộ này có nhiều cầu vượt.

Trước năm 1975 có 2 dự án quan trọng về vùng Đan Kia – Suối Vàng:
-Dự án xây dựng nhà máy nước Suối Vàng.
-Dự án xây dựng Trung tâm giải trí quốc tế.

* DỰ ÁN XÂY DỰNG NHÀ MÁY NƯỚC SUỐI VÀNG: Năm 1967, Công ty The Ralph M. Parsons ở Los Angeles (Hoa Kỳ) đã nghiên cứu vấn đề cấp nước cho Đà Lạt. Bản báo cáo có đề cập đến dự án xây dựng nhà máy nước Suối Vàng.
Theo dự án này, công suất của nhà máy là 25.000m3 nước/ngày và từ nhà máy đến bồn chứa nước trên đồi Tùng Lâm (Thouard) có một đường ống dẫn nước với đường kính 24”.

* DỰ ÁN XÂY DỰNG TRUNG TÂM GIẢI TRÍ QUỐC TẾ: Dự án này do Công ty khai thác du lịch, giải trí quốc tế Sanyei của Vương quốc Anh thực hiện nhằm khai thác 1.000ha đất ở Suối Vàng để thành lập Trung tâm giải trí quốc tế với kinh phí đợt đầu là 6 triệu đô-la, đợt thứ hai có thể sử dụng từ 60 đến 100 triệu đô-la. Với dự án này, Công ty Sanyei dự định sẽ thiết lập khu khách sạn, khu săn bắn, sở thú, khu giải trí bơi thuyền, một sân golf, một sân bay nhỏ dành cho máy bay có đường đáp ngắn như Viscount và máy bay lên thẳng.
*
Sau năm 1975, với sự giúp đỡ của Vương quốc Đan Mạch, nhà máy nước Suối Vàng được hoàn thành năm 1984 với công suất 18.000m3 nước/ngày. Nước sau khi khử trùng được bơm lên một bể chứa trên đồi Tùng Lâm ở cao độ 1565,2m, từ đây nước chảy vào hệ thống ống dẫn nước cung cấp cho thành phố.

Hiện nay, đến khu vực hồ Đan Kia- Suối Vàng, du khách sẽ lần lượt tham quan Thung lũng Vàng, thác Ankroet, đập nước Suối Vàng, hồ Đan Kia. Du khách cũng có thể nhìn toàn cảnh hồ Đan Kia – Suối Vàng khi đến đỉnh núi Radar (1950m) trong Khu Du lịch Lang Biang.

LỘ TRÌNH-Khu Hoà Bình – đường 3 tháng 2 – Hải Thượng – Hai Bà Trưng – Bạch Đằng – Nguyễn Văn Siêu – Xô Viết Nghệ Tĩnh – Ankroet. -Khu Hoà Bình – đường 3 tháng 2 – Hoàng Văn Thụ – Trần Văn Côi – Ankroet.

Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
*

Hồ Than Thở

Khu du lịch Hồ Than Thở (12/01/09)

Từ xa xưa, vùng hồ Than Thở ngày nay là một vùng đầm lầy. Vào năm 1937, người Pháp đắp đập ngăn dòng suối Cam Ly, xây dựng hồ chứa nước rộng 8,5ha cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Đà Lạt.

Nhận thấy vùng này rất hoang vu, chỉ nghe tiếng gió rì rào qua kẽ lá tạo thành một khúc nhạc buồn, người Pháp mới đặt tên là Lac des Soupirs.

Soupir có nghĩa là tiếng gió thổi trong rừng (les soupirs du vent dans les bois) nhưng cũng có nghĩa là sự than thở. Vì khó dịch theo nghĩa thứ nhất, người ta đã dịch theo nghĩa thứ hai, do đó hồ mang tên hồ Than Thở.

Về sau, nhiều câu chuyện được thêu dệt, phổ biến nhất là chuyện Hoàng Tùng - Mai Nương.

Vào thời Tây Sơn, trước khi lên đường ra trận, Hoàng Tùng dẫn Mai Nương ra bờ hồ tâm tình, hẹn sau khi thắng trận sẽ trở về. Nghe tin thất thiệt Hoàng Tùng đã hy sinh, Mai Nương gieo mình xuống hồ tự vẫn. Về sau, triều đại Tây Sơn sụp đổ, triều Nguyễn trả thù những người tham gia nghĩa quân Tây Sơn, Hoàng Tùng chạy lánh đến bờ hồ và trầm mình. Từ đó, hồ có tên là hồ Than Thở.

Vào lúc bình minh, sương mù bao phủ mặt hồ, tạo nên một bức tranh thuỷ mặc tuyệt đẹp, nên sau năm 1975 hồ Than Thở có lúc mang tên hồ Sương Mai.

Hồ Than Thở nằm ở phía đông bắc thành phố Đà Lạt, ven đường Hồ Xuân Hương, gần khu phố Lâm Viên và Thái Phiên, cách khu Hoà Bình 5,8km.

Từ khu Hoà Bình đến hồ Than Thở, xe chạy qua các đường Lê Đại Hành, Trần Quốc Toản, Yersin, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Phan Chu Trinh, Hồ Xuân Hương.

Hồ Than Thở là một trong những thắng cảnh nổi tiếng ở Đà Lạt do tên gọi khá hấp dẫn và cảnh quan quanh hồ. Tạp chí Indochine (Đông Dương) số 28 ra ngày 13-3-1941 chọn ảnh hồ Than Thở làm ảnh bìa.

Sau một thời kỳ khu rừng thông quanh hồ bị đào bới để khai thác thiếc, năm 1995, hồ Than Thở được giao cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Thuỳ Dương quản lý, đầu tư, khai thác, kinh doanh du lịch. Công ty đã tôn tạo khu vực hồ Than Thở thành một công viên giải trí với đồi thông tuyệt đẹp, bồn hoa, thảm cỏ chăm sóc công phu. Năm 2003 , Công ty cho dời những hàng quán sát bên lề đường hồ Xuân Hương đến một địa điểm mới trên đồi thông, khang trang, rộng rãi hơn.

Đến khu du lịch hồ Than Thở, du khách dạo chơi dưới rừng thông, cưỡi ngựa, đi trên chiếc cầu bê-tông giả gỗ, chụp ảnh, đi xe đạp nước, cắm trại,… Du khách còn có thể đến đồi thông phía bên kia đường (thường gọi là Đồi thông hai mộ), thăm mộ chị Nguyễn Thị Thảo, mất năm 1956, thông cảm cho mối tình dang dở.

Ngày 31-8-1998, Bộ Văn hoá -Thông tin đã công nhận hồ Than Thở là Di tích lịch sử - văn hoá.

Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
*

Hồ Xuân Hương

.
Hồ Xuân Hương (12/01/09)

Hồ Xuân Hương rộng 38ha, có độ sâu trung bình 1,5m, nằm trên độ cao 1478m, là trái tim của thành phố Đà Lạt.

Ngày xưa, nơi đây vốn là vùng đầm lầy mọc cỏ lác dùng để dệt chiếu và ruộng lúa của người Lạch sản xuất ven dòng suối Đạ Lạch (nay gọi là suối Cam Ly). Gần góc đường Nguyên Tử Lực- Bà Huyện Thanh Quan có một buôn của người Lạch.

Năm 1919, theo sáng kiến của công sứ Cunhac trong chương trình xây dựng Đà Lạt , kỹ sư công chánh Labbé xây dựng một đập nước từ nhà Thủy Tạ đến gần ngã tư các đường Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Thái Học, Bùi Thị Xuân, Đinh Tiên Hoàng tạo thành một hồ nước. Người Pháp gọi hồ này là Grand Lac (Hồ Lớn) để phân biệt với hồ nước ở cư xá Saint Benoit (khu Chi Lăng ngày nay) gọi là hồ Saint Benoit.

Ruộng lúa nằm trong lòng hồ, do đó người Lạch phải dời đến buôn Rơhàng Kròc (Rơhàng: buôn cũ, kròc: cam; người Pháp phiên âm là Ankroet). Đến năm 1942, khi xây dựng đập Suối Vàng, người Lạch lại phải dời đến buôn Đờng Tiang Đe (Đờng: lớn, Tiang: đuôi, đe: con chuột) ở trung tâm huyện Lạc Dương hiện nay.

Năm 1921-1922, theo lệnh của công sứ Garnier, đập nước được dâng cao và nối dài thêm.

Năm 1923, một đập thứ hai được xây dựng ở phía dưới đập đầu tiên tạo thành hai hồ nước. Cả hai đập này không có đập tràn kiên cố nên bị cơn bão dữ dội tháng 5 năm 1932 phá vỡ. Ngay sau đó, đập nước được xây dựng lại.

Năm 1934 - 1935, kỹ sư Trần Đăng Khoa thiết kế, xây dựng một đập lớn bằng đất có chiều cao 6,9m, chiều dài 50m, xi phông xả lũ và cầu giao thông dài 37,5m. Cầu thường gọi là cầu Ông Đạo vì gần văn phòng viên quản đạo.

Từ năm 1953, Grand Lac được đổi thành hồ Xuân Hương và hồ Saint Benoit thành hồ Mê Linh. Công trình hồ Xuân Hương đã trải qua nhiều lần sửa chữa vào các năm : 1947, 1953, 1979, 1984, 1996.

Năm 1984, đáy hồ được nạo vét chủ yếu bằng thủ công và gia cố xi phông.
Từ năm 1996, hồ Xuân Hương được tôn tạo theo dự án gồm 4 hạng mục chính :
-Sửa chữa gia cố công trình xi phông tháo lũ kết hợp với cầu giao thông;
-Nạo vét hồ bằng phương tiện cơ giới, khôi phục diện tích mặt nước và dung tích hồ;
-Tôn tạo bờ hồ chống sạt lở, xây dựng các vườn hoa nhỏ, đường đi dạo quanh hồ;
-Xây dựng 4 hồ chứa ngăn chặn bồi lắng và chống ô nhiễm nguồn nước.
*
Vào mùa nắng, mặt hồ Xuân Hương trong xanh, phẳng lặng, nhưng vào mùa mưa, thỉnh thoảng nước đỏ ngầu do phù sa các dòng suối chảy về.

Trên mặt hồ đã tổ chức đua thuyền buồm, thuyền độc mộc, ca-nô, lướt ván, biểu diễn máy bay điều khiển từ xa, bắn pháo hoa,…

Các con đường chạy quanh hồ Xuân Hương (Nguyễn Thái Học, Bà Huyện Thanh Quan, Yersin, Trần Quốc Toản, Lê Đại Hành) dài 5,1km, tương đối bằng phẳng, là nơi thường diễn ra đua xe đạp cúp truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh trước ngày 30-4, đi bộ vào buổi sáng và chạy việt dã trong những dịp lễ hội. Du khách có thể thuê xe đạp đôi chạy quanh hồ.

Chung quanh hồ Xuân Hương có nhà Thuỷ Tạ, khách sạn Sofitel Dalat Palace, công viên Xuân Hương, nhà hàng Xuân Hương, nhà hàng Thanh Thuỷ, đài phun nước, khách sạn Empress, khách sạn Hương Trà, toà giám mục giáo phận Đà Lạt, khu vui chơi giải trí Đà Lạt, đồi Cù, vườn hoa thành phố, chùa Quan Thế Âm, khách sạn Du lịch Công đoàn, công viên Yersin, quảng trường (sân vận động), Trung tâm Văn hoá - Thông tin Lâm Đồng, Trung tâm Lễ hội Văn hoá Du lịch Lâm Đồng.

Nhà Thuỷ tạ nguyên là Câu lạc bộ thể thao dưới nước dành cho những người thích bơi lội và những người yêu thích chèo thuyền buồm (yacht) và thuyền hai mái chèo (périssoire). Người Pháp gọi nhà Thuỷ tạ là Grenouillère (tổ ếch) vì nhà Thuỷ tạ có bục nhào dành cho người bơi lội nhào từ bục xuống giống như con ếch. Hiện nay, nhà Thuỷ tạ được dùng làm quán rượu - nhà hàng (bar - restaurant).

Trước nhà Thuỷ tạ là một vườn hoa nhỏ (ngày xưa gọi là vườn hoa Tao Đàn) với nhiều loài hoa đẹp, trong đó có một trong những cây phượng tím (Jacaranda acutifolia) xưa nhất trồng từ năm 1960.

Khách sạn Sofitel Dalat Palace nằm trên một ngọn đồi trông xuống hồ Xuân Hương.

Khách sạn nguyên là Langbian Palace được khởi công xây dựng năm 1916, khánh thành năm 1922 và được Công ty Du lịch Lâm Đồng liên doanh với Công ty DRI nâng cấp năm 1991. Hiện nay, khách sạn Sofitel Dalat Palace là khách sạn 5 sao.

Khách sạn giống như một dinh thự (palace) nguy nga, tráng lệ mang phong cách kiến trúc hiện đại kết hợp với trường phái cổ điển.

Trước khách sạn là thảm cỏ xanh mượt với những cụm hoa chăm sóc công phu.

Năm 1946, Nguyễn Tường Tam - Trưởng đoàn và Võ Nguyên Giáp - Phó Trưởng đoàn của phái đoàn nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tham dự Hội nghị trù bị Đà Lạt đã ở tại khách sạn Langbian Palace.

Năm 1975, nơi đây cũng đã được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chọn để tổ chức Hội nghị tổng kết chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Đài phun nước được xây dựng trước năm 1975, tôn tạo vào năm 2003 nhân dịp kỷ niệm 110 năm Đà Lạt hình thành và phát triển.

Hàng tùng gai dọc đường Nguyễn Thái Học soi bóng xuống mặt nước hồ Xuân Hương.

Trung tâm vui chơi giải trí Đà Lạt rộng 7.500m2 là đơn vị hợp tác kinh doanh giữa Công ty Quản lý Công trình Đô thị Đà Lạt và TOA Economic - Lab Co. LTD Kyoto Nhật Bản được thành lập ngày 24-3-1998 với chức năng: tổ chức các loại hình vui chơi, giải trí, văn hoá - thể thao - du lịch.

Trung tâm khai trương ngày 16-2-1999 với 16 trò chơi: Games, xe điện, xe đua, xe đụng, xe lửa, đu quay ngũ hình (5 con thú), đu quay thẳng đứng, đu văng, hoả tiển, nhà banh, nhà bong bóng, ngựa quay, thuyền đụng, xích lô, con sâu, con cá.

Ngoài khu vui chơi giải trí Đà Lạt ở đường Nguyễn Thái Học dành cho thiếu nhi, Trung tâm còn có Câu lạc bộ bơi thuyền thành lập năm 2001 cho thuê ca-nô du lịch, ca-nô cá heo, xe đạp nước, thuyền buồm, chèo Liên Xô, Kayak, tắc ráng, périssoire.

Đồi Cù gồm 3 ngọn đồi mấp mô rộng 65ha nằm giữa các đường Đinh Tiên Hoàng, Bà huyện Thanh Quan, Trần Nhân Tông, dành cho môn thể thao thời thượng : đánh cù (golf) . Sân cù được thành lập vào năm 1922 với 9 lỗ. Năm 1992, sân cù được tôn tạo và sân cù mới 18 lỗ được khánh thành vào tháng 11-1993.

Vườn hoa thành phố Đà Lạt nằm ở phía Đông Bắc Hồ Xuân Hương.

Vườn hoa được khởi công xây dựng ngày 21-6-1973 và phát triển từ năm 1985, rộng 11ha do Công ty Công viên hoa và cây xanh thành phố Đà Lạt quản lý. Đây là nơi hội tụ nhiều loài hoa đẹp của phương Đông và phương Tây.

Trước năm 1975, gần vườn hoa thành phố Đà Lạt có vườn hoa Bích Câu là vườn hoa lớn nhất ở Đà Lạt thời bấy giờ trồng nhiều cây mai anh đào.
Công viên Yersin được khánh thành năm 2003.
*
Hồ Xuân Hương có nhiều điểm, góc chụp hình rất đẹp, là nguồn cảm hứng của nhiều thế hệ văn nghệ sĩ, nổi tiếng nhất là hai bài thơ sáng tác năm 1933: Đà Lạt trăng mờ của Hàn Mặc Tử và Đà Lạt đêm sương của Quách Tấn.

Ngày 6-11-1988, Bộ Văn hóa - Thông Tin đã ra quyết định số 1288 công nhận hồ Xuân Hương là Di tích lịch sử - văn hoá. Đây là thắng cảnh đầu tiên ở Lâm Đồng được Nhà nước xếp hạng thắng cảnh quốc gia.

Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
*

Trường Võ bị Quốc gia Dalat

Trang Nhà cuả Trường Võ bị Quốc gia Đàlạt:
www.tvbqgvn.org/

Xem hình ảnh Slide Trường Võ bị Quốc gia:
www.authorstream.com/Presentation/botungma-201134-truong-vo-bi-quoc-gia-viet-nam-bo-tung-ma-vbgq-vn-science-technology-ppt-powerpoint/

Chú ý: Cùng trang với Slide Trường Võ bị Quốc gia,
bạn có thể click vào các hình bên cạnh để xem hình ảnh
và nghe các bản nhạc: Việt nam Việt nam - Giấc mơ Việt nam –
Những nẻo đường Việt nam và nhiều bản nhạc hay khác…

Bạn cũng có thể clich thẳng vào các trang dưới đây:

www.authorstream.com/Presentation/Dannyvogt-109174-viet-nam-vietnamvietnam-entertainment-ppt-powerpoint/

www.authorstream.com/Presentation/vnlib-179762-giac-mo-viet-nam-lily-doiron-026-lilydoiron-entertainment-ppt-powerpoint/

www.authorstream.com/Presentation/DungLac-144072-nh-ng-vi-nam-nhungneoduongvn-entertainment-ppt-powerpoint/

www.authorstream.com/Presentation/DungLac-144065-bi-bao-gi-tr-la-ng-saigonnamxuabietbaogiotrolai-others-misc-ppt-powerpoint/

www.authorstream.com/Presentation/htran10395-104736-con-tim-vui-tr-va-entertainment-ppt-powerpoint/


Dalat du ký cuả Phó đức Mẫn
(những hình ảnh cũ cuả Dalat thơ mộng)

http://saigonecho.com/page.php?id=4991

Dalat Thành phố ngàn hoa
(VinnyTran thực hiện)

www.youtube.com/watch?v=gXmJoPqZbD0&feature=related
*

đồi Mộng Mơ

Đồi mộng mơ (05/01/09)

Nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt 5km trên đường đi đến Thung lũng Tình yêu, Đồi Mộng Mơ là một điểm du lịch khai trương năm 2003 nhân dịp kỷ niệm 110 năm Đà Lạt hình thành và phát triển.

Đồi Mộng Mơ nguyên là khu du lịch Hồ Rồng nằm trên một ngọn đồi ở phía đông bắc thành phố Đà Lạt.

Hồ Rồng được khởi công xây dựng từ năm 1978 và chuyển thành khu du lịch từ năm 1992.

Tại đây có tượng một con rồng đúc bằng xi măng cốt sắt phun nước do một trạm bơm nước từ hồ Đa Thiện III (Thung lũng Tình yêu) và chuyển lên hồ Thống Nhất. Nhờ địa thế, nước tự động chuyển xuống vùng trồng rau Đa Thiện.

Nhân một chuyến tham quan Đà Lạt, một doanh nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh rất yêu Đà Lạt có ý tưởng xây dựng ngọn đồi này và khu vực chung quanh thành một khu du lịch văn hoá mang tên “Đồi Mộng Mơ”.

Ngày 11-12-2003, Ban Quản lý rừng đặc dụng Lâm Viên thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Lạt và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lâm Đồng ký hợp đồng cho Công ty Cổ phần Thành Ngọc thuê 11.000m2 đất với thời hạn 50 năm nhằm đầu tư xây dựng khu du lịch.

Đến khu du lịch Đồi Mộng Mơ, du khách sẽ tham quan vườn hoa lan, cây cảnh, thiên nhiên hữu tình, thác nước nhân tạo, nhà Việt cổ, vườn thơ Hàn Mặc Tử, tượng cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, làng văn hoá dân tộc, trích đoạn Vạn lý trường thành, gian hàng đá cảnh thiên nhiên, khu triển lãm sinh vật lạ, hầm rượu “Mộng Mơ tửu”,…

Thác vàng cao 10m tuôn trào xuống một dòng suối lô nhô sỏi đá.

Nhà Việt cổ khoảng 300 năm tuổi vốn là nhà của một viên quan thời Tây Sơn, được đưa từ
Bình Định vào với tủ thờ, trường kỷ bảo toàn gần như nguyên vẹn.

Vườn thơ Hàn Mặc Tử được trang trí với vườn hoa, cây cảnh và những vần thơ của Hàn Mặc Tử khắc trên bảng gỗ.

Tượng bán thân cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được Phạm Văn Hạng điêu khắc đặt giữa rừng thông để tưởng nhớ đến một nghệ sĩ tài hoa của thế kỷ XX đã học ở Trường Sư phạm Quy Nhơn và có một thời dạy học ở Bảo Lộc.

Vạn lý trường thành dài hơn 1km uốn khúc qua hai ngọn đồi.

Làng văn hoá dân tộc rộng 2ha, khai trương ngày 28-4-2006, giới thiệu nhà cửa, chum choé, sinh hoạt của người Lạch, giúp du khách đi sâu hơn nữa vào đời sống văn hoá phong phú, đặc sắc của đồng bào thiểu số.

Khu triển lãm sinh vật la trưng bày những động vật kỳ dị.

Khu du lịch Đồi Mộng Mơ còn có nhà hàng Hạnh Phúc với sức chứa 400 khách, thực đơn phong phú, hấp dẫn.

Du khách có thể lưu trú tại khu Bungalow với những nhà nghỉ dạng nhà rông, tiện nghi cao cấp, không khí ấm cúng và an toàn.

Khu du lịch Đồi Mộng Mơ cũng cho thuê lều dã ngoại, tổ chức lửa trại giao lưu, chương trình ca múa nhạc dân tộc Tây Nguyên trên sân khấu lộ thiên hoành tráng hằng ngày từ 15 giờ đến 22 giờ theo yêu cầu của du khách.

Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
*

Thác Prenn

Thác Prenn (06/01/09)

Khu du lịch thác Prenn nằm sát ngay bên cạnh quốc lộ 20, dưới chân đèo Prenn, gần cửa ngỏ vào thành phố Đà Lạt, cách trung tâm thành phố Đà Lạt 10km về hướng nam.

Ngày xưa, phía trên thác Prenn có buôn Prền nên thác mang tên gọi phổ biến là Prenn. Người Lạch gọi thác Prenn là Liang Tarding.

Thác Prenn cao 9m, rộng 20m, nằm trên dòng suối Prenn (Da Prenn). Từ trên cao, nước đổ qua một vòm đá huyền vũ (bazan), rơi xuống trải đều như một bức rèm trắng xoá đẹp tựa như mái tóc của nàng tiên.

Du khách đến tham quan thác Prenn thích thú đi qua chiếc cầu nhỏ bắc phía sau thác, để mặc cho bụi nước tung toé bám vào người, mang lại một cảm giác sảng khoái đặc biệt - cảm giác của con người hoà mình với thiên nhiên.

Đường xuống thác quanh co tựa sát sườn núi rợp bóng cây.

Trong những năm 1960, thác Prenn có một vườn thú nhỏ với voi, cọp, gấu, hươu, nai, khỉ, trăn, công,…

Hiện nay, Khu du lịch thác Prenn rộng 160ha, trong đó rừng thông và rừng nguyên sinh chiếm 90% diện tích, đã được Công ty cổ phần dịch vụ du lịch tôn tạo, xây dựng cáp treo tự hành xuyên thác, cầu mây treo qua suối, nhà sàn, chòi trên ngọn cây, phòng tranh thêu lụa, quầy hàng lưu niệm, tổ chức biểu diễn nhạc dân tộc Tây Nguyên, bơi thuyền thể thao, các trò chơi dân tộc,… Nhà hàng phục vụ khách hàng theo yêu cầu, đặc biệt món cháo cá.

Ở phía đông thác Prenn có quần thể đền thờ Âu Lạc thờ vọng các vua Hùng toạ lạc trên một ngọn đồi có thế “voi phục, hổ quỳ”. Đây là mô hình du lịch mới: du lịch sinh thái kết hợp với trở về cội nguồn dân tộc.
Đền thờ được khánh thành ngày 10 tháng 3 năm Giáp Thân (2004) gồm có: đền Hạ, đền Trung và đền Thượng phỏng theo các ngôi đền thờ ngoài đất Tổ ở Phú Thọ.

Từ thác Prenn, du khách có thể đi bộ hay thuê xe UAZ chạy trên con đường ngoằn ngoèo đến đền Hạ, rồi đi bộ lên đền Trung, đền thờ thần lúa và đền Thượng. Đất, nước, bát nhang thờ trong đền đều được xin về từ đền Hùng. 100 viên đá tượng trưng cho 100 quả trứng mang từ Ninh Thuận lên được đặt bên tượng đài Lạc Long Quân - Âu Cơ.

Gần đền Thượng có Giếng Ngọc, nước rất trong và một tảng đá to có hình thù cái chiêng, phát ra âm thanh như tiếng chuông.

Đứng trên đền Thượng, du khách phóng tầm mắt nhìn về núi Voi tận hưởng phong cảnh hữu tình của vùng ngoại ô thành phố Đà Lạt.

Từ đền Thượng, du khách bước xuống hàng trăm bậc cấp đến công viên Âu Lạc.

Hằng năm, vào ngày 10 tháng 3 âm lịch, Công ty cổ phần dịch vụ du lịch Đà Lạt tổ chức trọng thể lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương với nhiều tiết mục văn hoá đặc sắc: hát quan họ Bắc Ninh, múa xoè của người Thái, biểu diễn cồng chiêng của người Cơ Ho,…

Năm 1998, Bộ Văn hoá - Thông tin đã công nhận thác Prenn là Di tích Lịch sử - Văn hoá.

Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
*

Thác Voi

Thác voi (12/01/09)

Thác Voi thuộc thị trấn Nam Ban (huyện Lâm Hà), cách Khu Hoà Bình 24km về hướng tây nam.

Thác cao hơn 30m nằm trên dòng suối Cam Ly. Dưới chân thác là những khối đá huyền vũ (bazan) bị bào mòn theo năm tháng trông giống như lưng của một đàn voi đang chen nhau tắm suối.

Xung quanh thác là khu rừng nguyên sinh với những hang động kỳ thú, những cây cổ thụ chằng chịt dây leo.

Gần thác, về phía hữu ngạn suối Cam Ly, có chùa Linh An khánh thành vào năm 2000.

Trước đây, muốn đến thác Voi, du khách phải xuống đèo Prenn, đi tiếp trên quốc lộ 20, rẽ phải từ ngã ba Liên Khương, theo quốc lộ 27 đi Buôn Ma Thuột, sau đó rẽ phải đến thị trấn Nam Ban và thác Voi. Lộ trình dài hơn 60km. Từ khi con đường Đà Lạt -Tà Nung được xây dựng xong, đường đến thác Voi ngắn hơn.

Khu Du lịch thác Voi hiện do Công ty cổ phần Dịch vụ Du lịch Đà Lạt quản lý.

Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
*

Thác Gougah

Thác Gougah (06/01/09)

Trên quốc lộ 20, từ Đà Lạt đến Thành phố Hồ Chí Minh, cách Đà Lạt 37km, xe rẽ phải chạy tiếp khoảng 900m sẽ đến Khu du lịch sinh thái thác Gougah (Gugah, Gu Ga).

Ngày xưa, gần thác có một khoảng đất trống trẻ em thường đến chơi đùa, gọi là Blàng Gugah, người Pháp đặt tên thác là Gougah.

Khu du lịch sinh thái thác Gougah, rộng 129ha, nằm trên địa bàn xã Phú Hội thuộc huyện Đức Trọng, do Công ty trách nhiệm hữu hạn du lịch Tài Nhân quản lý.

Thác Gougah cao 30m tuôn bọt trắng xoá. Vào mùa mưa, tiếng thác đổ vang dội cả núi rừng. Hơi nước bốc lên phản chiếu ánh sáng mặt trời tạo thành cầu vòng với 7 màu rực rỡ. Hiện nay,

Công ty Tài Nhân đã phát quang và tạo nhiều bậc cấp nên đường dẫn xuống thác dễ đi hơn thuở thác còn hoang sơ.

Thượng nguồn thác là dòng chảy Đa Nhim có chiều rộng khoảng 30m dẫn đến thác rộng 60m đổ xuống vực sâu tạo thành thác. Về phía tả ngạn là rừng tái sinh và cây mới trồng rộng chừng 6ha, phù hợp cho tổ chức cắm trại. Đồi thông này tiếp nối với khu rừng gần thác Bảo Đại. Từ hữu ngạn sông Đa Nhim đến quốc lộ 20 cũ là những ngọn đồi rộng khoảng 3ha trước đây là đồi trọc, nay đã trồng phủ cây bạch đàn và nhiều loại cây rừng.

Cách thác Gougah khoảng 2km có một mạch nước khoáng nóng. Chuyên viên địa chất khảo sát nước khoáng cho thấy thành phần nước chứa các nguyên tố hoá học có thể sử dụng sản xuất nước khoáng thiên nhiên và còn dùng để chữa bệnh theo phương pháp vật lý trị liệu.

Ngoài vườn hoa, cây cảnh, vườn cầm thú, quầy lưu niệm, quán cà phê, quán ăn bình dân, trạm dừng chân ven đường xuống chân thác, môn leo núi bằng dây,… Khu du lịch sinh thái thác Gougah còn có một số nhà nghỉ nhỏ mái rất dốc, mang dáng dấp nhà rông Tây Nguyên, thích hợp cho những du khách muốn dừng chân, tìm sự yên tĩnh, không khí trong lành, ngắm nhìn dòng thác cuồn cuộn với những rừng cây bạt ngàn.

Nhà thơ Xuân Diệu đã một lần đặt chân đến thác Gougah và cảm hứng sáng tác những dòng thơ:

“Đổ ào ào, đổ Gu Ga
Sông Đa Nhim tới đã oà thành bông
Thành thơ trắng xoá một vùng
Bạc vàng tuôn xuống vô cùng thời gian”.

Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
*

Thác Pongour

Thác Pongour (06/01/09)

Trên đường Đà Lạt - Thành phố Hồ Chí Minh, cách Đà Lạt 40km, đến cây số 260, rẽ phải đi tiếp 6km sẽ đến Khu du lịch sinh thái Pongour (Pông Gua). Trước đây, đường từ quốc lộ 20 đến thác Pongour chỉ là con đường rừng nhỏ rất khó đi nhưng hiện nay con đường này phần lớn đã được tráng nhựa dẫn đến cổng Khu du lịch sinh thái Pongour.

Khu du lịch sinh thái thác Pongour, rộng 162ha, nằm trên dòng sông Đa Nhim thuộc hai xã Tân Thành và Ninh Gia, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng.

Sau khi qua khỏi cổng Khu du lịch, du khách đi xuống chân thác bằng hai con đường: đường tắt với nhiều bậc cấp và đường ven đồi thoai thoải, tuy xa nhưng dễ đi hơn. Thác Pongour rộng khoảng 120m, cao 30m, là thác nước hùng vĩ nhất ở Lâm Đồng. Vào mùa mưa, khối nước khổng lồ tuôn từ tầng này xuống tầng khác, tạo ra những tiếng vang rất xa, màn sương khói huyền ảo, rồi chảy vào một hồ nước. Cây cầu gỗ giúp du khách đến tảng đá lớn dưới chân thác.

Hằng năm, vào ngày rằm tháng giêng âm lịch, có đến hàng chục ngàn người đổ về thác Pongour trẩy hội mùa xuân, cắm lều trên các ngọn đồi xung quanh thác. Đây là dịp thanh niên sống hoà đồng, gặp gỡ, làm quen, tìm hiểu nhau.

Những năm gần đây, lễ hội cồng chiêng, đâm trâu, các trò chơi dân gian, thi nấu cơm lam, múa xoè Thái,… được tổ chức thu hút du khách ngày càng nhiều hơn.

Bảo tháp, cao 10 mét, được xây dựng với ước nguyện đất nước thanh bình, dân giàu, nước mạnh, người người đều được ấm no và hạnh phúc.

Nhà Bảo Đại là một vọng lâu ngày xưa vua Bảo Đại dừng chân trong những chuyến du hành, săn bắn. Từ đây, du khách sẽ nhìn thấy thác Pongour với một góc nhìn tuyệt đẹp.

Bến thuyền, cách nhà Bảo Đại khoảng 200m về phía thượng nguồn, đã được Công ty Đất Nam phục hồi lại nhằm phục vụ du khách đến tham quan, chèo thuyền, câu cá, bắn nỏ,…

Làng nghề dệt may thổ cẩm sản xuất những tấm vải, quần áo, túi xách,… với các chất liệu từ thực vật.

Thảm én là một vách đá thẳng đứng có chiều dài hơn 100m, cao hơn 70m, cách chân thác Pongour khoảng 200m về phía hạ nguồn sông Đa Nhim. Hằng năm, cứ vào mùa hè, hàng vạn chim én không biết từ đâu đến trú ngụ trong các khe của vách đá.

Ngoài thác Pongour, trong Khu du lịch sinh thái thác Pongour còn có bảo tháp, nhà Bảo Đại, bến thuyền, làng nghề dệt may thổ cẩm, thảm én,…

Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
*

Thác Hang Cọp

Thác Hang Cọp (12/01/09)

Thác Hang Cọp toạ lạc tại thôn Tuý Sơn, xã Xuân Thọ, thành phố Đà Lạt.

Trên quốc lộ 20, qua khỏi Trại Mát, đến cây số 13, rẽ trái, xe chạy tiếp trên một con đường dốc quanh co dài 2,7km giữa rừng thông bạt ngàn sẽ đến thác Hang Cọp.

Vào năm 1950, nơi đây là một khu rừng rậm với nhiều loài thú, chim muông quý hiếm, trong đó có loài thú dữ nhất của muôn loài, thường gọi là “chúa tể sơn lâm” hay “Ông 30”, thường hay trú ẩn trong một hang động với hai cửa ra vào gần đầu thác về phía hữu ngạn dòng suối. Vào thời điểm ấy, những người thợ săn cũng tìm đến vùng đất này. “Ông 30” đã bị một thợ săn người Chil bắn trọng thương một chân. Lồng lộn, đau đớn vì vết thương, “Ông 30” giận dữ, cào cấu, gầm thét lên từng hồi vang động cả cánh rừng, rồi uất hận rời hang, lao mất hút vào rừng sâu. Từ ấy, mọi người không còn hoang mang, hoảng sợ loài thú dữ nơi vùng đất thiêng hoang dã này, và tên gọi thác Hang Cọp được khai sinh từ năm đó.

Trong vườn hoa, du khách nhìn thấy tượng một con cọp to lớn đang thư thả dạo chơi. Cạnh đó, một gia đình cọp quây quần gần những cây nấm khổng lồ. Bức tượng chàng dũng sĩ trong tư thế hiên ngang gợi nhớ đến người thợ săn thuở nào.

Gần hang cọp, một chiếc cầu treo đong đưa bắc ngang dòng suối đưa du khách đến một đồi thông. Nếu leo ngược lên đồi thông, du khách sẽ gặp một con đường rừng dẫn đến buôn làng của đồng bào dân tộc thiểu số cách thác khoảng 8km. Nếu ngại đường xa, du khách có thể thuê xe chuyên dụng đến buôn làng, ở lại sinh hoạt với đồng bào.

Từ vườn hoa, du khách đi xuống vực sâu trên một con đường dốc với gần 150 bậc cấp bằng xi măng. Đến chân thác, hơi nước toả mù như sương, khí đá ẩm ướt bốc ra lạnh ngắt. Trước mắt du khách là thác nước cao khoảng 25m, rộng hơn 10m. Dòng nước trắng xoá từ trên cao đổ xuống một hố sâu rồi theo dòng suối, lách qua những tảng đá lớn rồi chảy trong khu rừng nguyên sinh rậm rạp.

Cảnh vật quanh thác còn hoang dã, môi trường trong lành, phù hợp với du khách ưa thích loại hình du lịch sinh thái.

Hiện nay, Khu du lịch thác Hang Cọp do Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Tâm I quản lý. Ngoài công việc đầu tư xây dựng Khu du lịch ngày càng hấp dẫn hơn, Công ty còn tổ chức các dịch vụ: ăn uống, giải khát; tham quan buôn làng; cắm trại dã ngoại; cho thuê lều bạt,…

Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
*

Thác Datanla

Thác Datanla (09/01/09)

Khu du lịch thác Datanla rộng 312ha nằm ven quốc lộ 20 gần đèo Prenn, cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 5km về phía nam và thuộc phường 3.

Datanla có thể giải thích theo hai cách:

* Datanla do cụm từ dà tàm n’ha (nước dưới lá).
* Datanla do cụm từ dà plah: suối mây(dà: suối, plah: cây mây).
Dòng suối Datanla từ hồ Tuyền Lâm chảy ngoằn ngoèo giữa những cánh rừng thông, rừng nguyên sinh rậm rạp, dây leo chằng chịt,… rồi đổ xuống thác.

Nằm trong khu rừng dự trữ nên thác Datanla còn mang vẻ đẹp hoang dã. Thác cao 20m, độ nghiêng thác khoảng 75o. Nước đổ mạnh trên những tảng đá nhiều tầng chồng chất giữa hai triền dốc tạo thành nhiều thác liên tiếp. Một chiếc cầu xi măng cốt thép dáng hình cầu vòng nối liền hai bờ suối.

Dưới chân thác, dòng suối Datanla chảy chậm lại, luồng lách qua những mỏm đá rồi chảy vào một hố sâu gọi là “Vực Tử Thần” nằm giữa hai bên vách đá thẳng đứng cao hơn 40m.

Muốn xuống tham quan thác, du khách có thể đi bộ hay sử dụng hệ thống xe trượt ống.
Du khách đi bộ theo một trong hai con đường dốc quanh co với trên 200 bậc cấp trong khoảng 15 phút.

Hệ thống xe trượt ống (máng trượt) do hãng Wiegand (Cộng hoà Liên bang Đức) sản xuất theo công nghệ hiện đại của châu Âu và khánh thành ngày 25-5-2006. Đây là một hệ thống khép kín gồm 2 tuyến: tuyến trượt (tuyến xuống) và tuyến kéo (tuyến lên). Hệ thống gồm 48 xe trượt đôi với công suất tối đa 700 người/giờ. Mỗi xe có hệ thống thắng tay giúp du khách chủ động điều khiển tốc độ tuỳ theo ý muốn. Trên tuyến xuống dài hơn 800m, xe nghiêng gần 40o tại các đoạn lượn quanh. Hai bên tuyến xuống và lên đều có hành lang bảo vệ và lưới an toàn. Với tốc độ xe trượt 40km/giờ, du khách chỉ mất khoảng 2 phút là đến chân thác, vừa tiết kiệm được thời gian, vừa có cảm giác mạo hiểm hào hứng. Trên tuyến lên theo đường thẳng đứng dài 200m, xe trượt kẹp chặt vào dây cáp và di chuyển nhờ dây cáp chuyển động.

Hệ thống thác Datanla ngoài thác chính dành cho khách tham quan còn có nhiều thác khác rất hùng vĩ nhưng đường rất khó đi. Khu du lịch Datanla hợp tác với Công ty trách nhiệm hữu hạn Hồng Bàng tổ chức các trò chơi mạo hiểm dành cho du khách thích phiêu lưu, leo vách đá, băng rừng, đi theo dòng suối Datanla đến cầu Prenn.

Nhà hàng Datanla nằm ngay lối cổng đi vào được thiết kế theo kiểu nhà sàn, lợp tranh. Với sức chứa khoảng 150 khách, phục vụ điểm tâm, ăn trưa, ăn chiều, giải khát với khung cảnh đẹp nên thơ, hữu tình và thân thiện. Đặc biệt, thịt heo đặc sản rất được ưa chuộng. Ngoài ra, nhà hàng Datanla còn nhận phục vụ cơm đoàn, tiệc buffet và âm nhạc cồng chiêng tuỳ theo yêu cầu của khách.

Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
.

Thác Camly

Thác Camly (12/01/09)

Thác Cam Ly chỉ cách khu Hoà Bình khoảng 2km về phía tây, gần cuối đường Hoàng Văn Thụ. Đây là thác nước gần trung tâm thành phố Đà Lạt nhất.

Suối Cam Ly bắt nguồn từ khu rừng Đa Ra-hoa (huyện Lạc Dương) và nhận nước từ các núi Láp-bê Nam (Labbé Sud), Láp-bê Bắc (Labbé Nord). Sau khi qua địa phận thành phố Đà Lạt, suối Cam Ly tiếp tục chảy qua huyện Lâm Hà và nhập vào sông Đạ Đờng (thượng nguồnsông Đồng Nai).

Tuỳ vùng, chữ Cam Ly được giải thích khác nhau theo truyền thuyết:
* Theo lời kể của ông Chil Long ở xã Tà Nung, trong thời kỳ xa xưa thác Cam Ly gọi là Liang Sra. Gần thác có một buôn của người Lạch nằm ở đường Ma Trang Sơn, Yagut, Trần Bình Trọng, Lê Lai và Hoàng Diệu ngày nay. Chủ làng là ông Yagut Hamon có người con trai là Dam M’Ly hay Mon M’Ly. Thực dân Pháp đã trừng phạt Dam M’Ly rất tàn nhẫn. Chúng trói Dam M’Ly bên bìa rừng, cạnh tổ kiến và tổ ong cho tới khi nào Dam M’Ly chịu hàng phục, nhưng anh đã cắn răng chịu đựng những cơn đói cồn cào, những cơn đau nhức nhối, một mực không khai. Anh không hề kêu cứu, van xin, chỉ nhìn trân trân vào lũ thực dân gian ác. Ngày nắng, đêm sương làm cơ thể Dam M’Ly nhão mềm, rồi Dam M’Ly từ trần. Người cha già thương con, bất chấp họng súng của kẻ thù, tiến đến ôm xác con và khóc như hổ gầm, voi rống, rồi chết cùng đứa con. Từ đó bà con dân tộc Cơ Ho của vùng Đạ Lạch gọi thác Liang Sra là Liang Mon M’Ly. Qua quá trình biến đổi ngữ âm, từ Mon M’Ly được chuyển thành Cam Ly.

Hiện nay, tại thác Cam Ly có một ngọn đèn thần Bana làm bằng bê tông giả cây và giữa thân cây có khắc tên Mon M’Ly và Dam M’Ly.
* Theo lời kể của ông Dagut K’Mlơi ở xã Lát, khi chuyên viên trắc địa người Pháp hỏi già làng K’Mlơi thác nước tên gì, ông tưởng hỏi ông tên gì nên trả lời: “K’Mlơi”. Người Pháp ghi K’Mlơi là Camly. Từ đó, từ Camly được dùng để gọi tên thác và dòng suối Cam Ly.

Khu du lịch thác Cam Ly gồm 3 khu vực: thác Cam Ly, đài tưởng niệm, lăng Nguyễn Hữu Hào.
Thác Cam Ly không ồn ào, hung dữ. Dòng nước chảy nhẹ nhàng, êm ái qua các ghềnh đá hoa cương tựa như mái tóc buông xoả của một thiếu nữ. Một chiếc cầu bắc ngang dòng suối để du khách đi từ bên này sang bên kia suối, chiêm ngưỡng hết vẻ đẹp của dòng thác và khung cảnh xung quanh. Những nhà dù lợp tranh trông hoang dã để du khách nghỉ chân và ngắm những hạt nước bắn tung toé, lấp lánh như những hạt pha lê dưới ánh mặt trời. Du khách có thể cưỡi ngựa, chụp hình, dạo cảnh vòng quanh thác.

Đài tưởng niệm được xây dựng vào năm 2003 trên triền đồi thông gần thác Cam Ly, hướng về phía tây-nam để tưởng niệm 20 chiến sĩ hy sinh vì Tổ quốc.
Vào lúc 20 giờ ngày 11-5-1951, thực dân Pháp đã đẩy 20 tù chính trị lên chiếc xe bịt bùng, đưa đến khu rừng gần sân bay Cam Ly, rồi gọi tên hai người một xuống xe, lần lượt bắn chết những người tù. Trong số 20 chiến sĩ ấy chỉ có bà Nguyễn Thị Lang còn sống sót.
Lăng Nguyễn Hữu Hào được xây dựng vào năm 1939 theo những quy chuẩn mang đậm nét văn hoá phương Đông.
Lăng ở một vị trí đẹp theo thuyết phong thuỷ của người xưa, trên đồi thông cao 1523m so với mặt nước biển, rộng 16ha, quanh năm lộng gió, ngoảnh mặt về hướng tây-nam. Phía trước là thung lũng mở rộng ra một khoảng lớn, con suối nhỏ hình vòng cung ôm lấy chân đồi dẫn nước xuôi về nhập với dòng suối Cam Ly.
Kiến trúc lăng đẹp, đơn giản nhưng tiềm ẩn nhiều giá trị mỹ thuật hấp dẫn, góp phần làm phong phú thêm hệ thống di tích triều Nguyễn tại Đà Lạt.
*
Cam Ly đã đi vào lòng người Đà Lạt nói riêng và du khách nói chung, ngấm vào tâm hồn của nhà thơ, nhạc sĩ, đi vào thế giới thi ca và nhạc hoạ:

“Cam Ly cảnh đẹp trong mơ
Rừng thông, thác nước, sương mờ còn say”

Để tạo thêm nét đẹp cho thác Cam Ly, đồng thời bảo vệ, tôn tạo một thắng cảnh đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia ngày 2-12-1998, chính quyền thành phố Đà Lạt đã cho khởi công xây dựng, mở rộng, cải tạo dòng chảy của suối Cam Ly vào đầu năm 2000 nhằm chống ô nhiễm môi trường và xây hồ lắng sinh học trước khi cho dòng nước đổ về thác Cam Ly. Cùng với dự án trên, Công ty Cổ phần Dịch vụ Du lịch Đà Lạt thực hiện dự án đền bù, giải toả, xây dựng các công trình kiến trúc văn hoá, lịch sử, thác nước, hồ, suối trên diện tích 40ha và trồng gần 20ha rừng thông để cải tạo thác Cam Ly thành khu du lịch sinh thái và tham quan, nhằm tạo cho du khách sự thư giãn, thoải mái khi dừng chân tại thác Cam Ly, để vẻ đẹp thơ mộng của cảnh quan mãi mãi đọng lại trong lòng du khách.

Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
*

zondag 2 augustus 2009

Nhắn tin chung

Baoloc photo by Ha Thanh
Xin bạn gởi các bài vở viết về Dalat - Baoloc
và hình ảnh mới cũ về:
baoloclamdong.blogspot.com
hoặc qua Email: Tungnguyen.dalat@yahoo.com
. Cám ơn
***

zaterdag 1 augustus 2009

Mien du - Dalat

Miên Du-Đà Lạt: Đam mê với những suy tư sáng tác, gắn bó thơ-nhạc

Trước kia Miên Du-Đà Lạt chỉ thường cống hiến trong lãnh vực thơ văn, nhưng từ mấy năm đầu thế kỷ 21, cô đột nhiên như lạc bước vào thế giới sáng tác ca nhạc: Những CD khẳng định những cống hiến bền bỉ vì nghệ thuật , đã đáp ứng giới khán thính giả ái mộ khắp nơi trên thế giới, qua các làn sóng phát thanh, truyền hình và các mạng lưới website. Sau trên 5 năm liên tục nỗ lực sinh hoạt, Miên Du-Đà Lạt đã nổi bật từ những đóng góp vượt sức người, tốn kém lẫn tâm huyết , với trên 5 chương trình CD nhạc sáng tác. Gia sản của Miên Du Đà Lạt là một số ca khúc đáng yêu…

Chúng ta đã từng nghe: “Nắng Từ Đâu Gọi Bình Minh”, “Chạm Vào Tim”, “Thu đến Chưa ?”, “ Tỉnh Thức”, “Mùa Xuân Đã Qua”, “Khi tôi Buồn Tôi Bỏ Đi”, 'Một Hôm Trốn Phố', 'Không Điểm Hẹn', qua tiếng hát Mai Hậu; “Cây Giăng Tay Chờ Ai” (Diệu Hiền), “Tự Nhiên”, 'Xin Hãy Cho Nhau Nụ Cười' (Hương Giang), “Đi Tìm Hạnh Phúc ”, “Xưa Anh Vô Tình Em Vô Tâm”, với Hương Giang & Hoàng Quân.

Và những tiếng hát trẻ khác sau này như Huy Tâm, Phạm Trọng Tuyên, qua tài phối trí xuất sắc của ca sĩ Quỳnh Lan, cô cũng đã hát rất hay ca khúc “Theo Dòng Nước Trôi”.

8 ca khúc với Mai Hậu (tên của Mai Thiên Vân trước tháng 6-2007)

Mai Hậu trở nên tiếng hát rất trẻ, mới vừa 20 tuổi, đầy triển vọng, chuyên hát nhạc Thánh ca, nhạc Thiền, được giới thiệu để hát những ca khúc mới của Miên Du Đà Lạït. Khởi đầu với 'Tỉnh Thức' (Miên Du Đà lạt hoàn tất ca khúc trong chuyến thăm viếng Seattle) thu âm năm 2005 khi Mai Hậu còn ở Việt Nam. Những ca khúc kế tiếp Mai Hậu được thu thanh là: Nắng Từ Đâu Gọi Bình Minh, Một Hôm Trốn Phố (Valse), Về Không Điểm Hẹn, Chạm Vào Tim, Mùa Xuân Đã Qua, Thu Đến Chưa?, Khi Tôi Buồn Tôi Bỏ Đi, và nổi nhất là 'Nắng Từ Đâu Gọi Bình Minh'.

Từ những ca khúc hát của Miên Du Đà Lạt, kéo dài khoảng 2 năm, Mai Hậu đã được Trung tâm Thúy Nga ưu ái chiếu cố và giành độc quyền tiếng hát này: Và Mai Hậu trở thành Mai Thiên Vân khi xuất hiện trên trang bìa báo Văn Nghệ cũng như giữ một vị trí nổi bật trên sân khấu Paris By Night…Chính Mai Thiên Vân bây giờ không thể ngờ là 3 năm về trước cô đã hát những ca khúc thanh thoát, đáng yêu như thế, với tiếng dương cầm phụ họa , tiếng đàn guitar pha chút tiếng đàn banjo hay mandoline của Nguyễn Xuân Hoàng.

Lời thơ và âm điệu khai phá nhiều nét đặc sắc

Ca khúc “Một Hôm Trốn Phố” là những vần thơ lục bát được phổ thành ca khúc theo thể điệu Valse một cách thần kỳ. Ca khúc này chứa đựng những dòng thơ liên tục mênh mang, có cấu trúc khác lạ: không điệp khúc , đã kết hợp kỳ ảo giữa dòng nhạc, lời thơ và tiếng hát diễn tả. Nhà thơ Hà Huyền Chi cũng đã đưa ra lời nhận định: “ Có lẽ hiếm có những tình khúc vận dụng kỳ diệu những dòng thơ lục bát được chuyển đạt qua âm nhạc mà hay đến như thế..”

Tương tự như vậy: Nắng Từ Đâu Gọi Bình Minh cũng chỉ là những dòng thơ lục bát, mênh mang qua tiếng hát mảnh dẻ trong sáng, đã kiểm soát được làn hơi trong trẻo, nhưng có bị ép giọng hát ở những nốt nhạc với dấu hỏi, ngã, sắc, huyền, dù vẫn mượt như tơ lụa... con gái.

Trên nguyên tắc thì nếu qua giọng nam là Tuấn Ngọc, Vũ Khanh, Bằng Kiều, và giọng nữ như là Y Phương (Asia), thì có lẽ các ca khúc này sẽ dễ được cảm nhận hơn, nhanh chóng được đón nhận, và dễ dàng đi sâu vào trái tim người nghe nhanh hơn. Thế mà những ca khúc này của Miên Du tự chúng có sức mạnh truyền đạt đến với người nghe bởi giọng hát mới, mặc dù không phải là những tiếng hát hàng đầu. Như nước chảy vào dòng trũng . Ưu điểm của Miên Du Đà Lạt ở chỗ đó.
Lời hát trong sáng thanh thoát Thiền tính

Xuất thân từ những bài hát mộc mạc trong phạm vi ca đoàn Công Giáo, từ năm 2005, Miên Du Đà Lạt đã nhuần nhuyễn bắt sang giọng hát Thiền thánh thoát. Miên Du Đà Lạt đi đến kết luận: Nếu thơ là nguồn an ủi và văn là để tả chân cuộc đời , thì những ca khúc tâm linh cho đời sống, giăng trên thân phận mình như lằn ranh của hạnh phúc lứa đôi, như tâm sự, như những cành cây giăng tay chờ ai.

Ngoài Mai Hậu (Mai Thiên Vân), những ca khúc của Miên Du Đà Lạt như Xưa Anh Vô Tình Em Vô Tâm lại qua tiếng hát Hương Giang, rất được nhạc sĩ Lam Phương khen ngợi. Hương Giang còn hát Đời Bỗng Ru Điệu Buồn, Về Đâu Chiều Nay, Xin Hãy Cho Nhau Nụ Cười (Hilltop Publishing nhận phát hành), Vết Nứt Rêu Phong (nhạc phẩm này đã được nhà thơ Vương Đức Lệ ưu ái trong suốt thời gian điều trị bệnh). Còn có Quỳnh Lan với Ngày Mưa Ngày nắng, Tôi Ngồi Hoá Đá Thành Thơ, Nửa Đêm Trăng Gõ Cửa Rèm ... tất cả những nhan đề ca khúc này đều rất mới . Mà trong đó có cả tiếng hát của Nguyệt Hân ở những ca khúc như ”Một Hôm Trốn Phố”, “Nắng Từ Đâu Gọi Bình Minh”.

Người nhạc sĩ Miên Du Đà Lạt có cha gốc quê làng Quỳnh Côi tỉnh Thái Bình nhưng lại đuợc sinh trưởng tại Phan Rang và lớn lên từ thành phố Đà Lạt. Suốt những năm tháng thanh xuân, thơ văn không là huyền thoại mà là một quá trình sống của người yêu cuộc đời , say đắm với văn chương chữ nghĩa. Qua nhiều bút hiệu, nhiều lãnh vực văn học nghệ thuật, làm thiện nguyện phục vụ xã hội, nhưng hơn hết có lẽ Miên Du-Đà Lạt vẫn như là kiếp tầm, cống hiến trọn vẹn cuộc sống trong lãnh vực sáng tác nhạc. Sau năm 1993, gặp bao nhiêu gian nan, trắc trở trong cuộc đời lưu vong, cô lại càng có những sáng tác bước qua một ngã rẽ khác la,ï độc đáo riêng. Và cô đam mê như không ngừng nghỉ: Sáng tác nhạc.

Lắng nghe một chương trình nhạc mới đây nhất ,với sự góp mặt của Mai Thiên Vân (Mai Hậu), Nguyễn Bá Thành, Huy Tâm, Hương Giang, Diệu Hiền, Quỳnh Lan, Nguyệt Hân và bằng hữu, Miên Du Đà Lạt đã mở một con đường đi riêng, tự tin vào lòng yêu mến của thính giả, của người nghe ở rải rác khắp nơi trên thế giới, mà không qua ngả đường của các trung tâm ca nhạc tên tuổi là một phong thái tự tin, đầy can đảm và tiên phong…Đấy là một chương trình nhạc sống hay một CD tuyển chọn, Miên Du-Đà Lạt như mở rộng ra một cánh cửa cho người thưởng ngoạn bước vào một khung trời tươi mới.

Như một lời kết luận: ca khúc “Cánh Cửa” lời và nhạc rất tiêu biểu mang nỗ lực sáng tác mới. Phải chi những ca khúc tương tự như thế mà hội đủ các điều kiện: như hòa âm giỏi và lời ca tuyệt, nếu lại có thêm những tiếng hát hay, qua một sân khấu lớn và đuợc giới thiệu từ một số cây viết văn nghệ phân tách đúng mức…thì Miên Du Đà Lạt xứng đáng nổi biết chừng nào./.

Liên lạc tác giả: haingoaithica04@yahoo.com ĐT: 714-895-7686.

* Phạm Kim.
*

Dalat - International School

About Us ... History of DIS

Dalat School was founded in 1929 as a private Christian boarding school to provide a North American elementary and high school education for children of C&MA missionaries in Indo-China. Because of war conditions in 1965, the school moved from its original location in Dalat, Vietnam, to a temporary location in Bangkok, Thailand.

Eight months later, the school relocated to the Cameron Highlands of Malaysia where it remained for six years. In June 1971, Dalat moved to its present location in Penang, Malaysia where it became established as Dalat International School in 2002.

It is a pleasure for me to reflect on God's faithfulness to Dalat School. Ask any teacher what makes Dalat special and they will say it is the students. Ask any student what makes Dalat special and they will say it is the friends that they make and the fun they have with them. Ask any parent what makes Dalat special and they will say it provides a quality education in a safe environment. Positive togetherness, moments of camaraderie and satisfying relationships are the hallmarks of a Dalat education.

Dalat, Vietnam

It all began 68 years ago in the central highlands of Vietnam. The campus, known as Villa Alliance, had been purchased in 1928 with the idea that a school be developed for the children of missionaries whose parents served in Indochina. In 1929 three students and one teacher held classes in a rented h ouse while a large two-story home and servants' quarters were constructed.
From 1929 until 1949, the student body remained small. Auntie and Uncle Jackson served as dorm parents for 20 years. During World War II, the French Vichy government placed the missionaries and students under house arrest for three months. Later in 1943, they were transferred to a Japanese internment camp in My Tho, a city south of Saigon. Franklin Irwin, a high school student at that time, said classes never stopped. His teacher taught him in the morning, and he taught the younger children in the afternoon. After the war, the school returned to the Villa in Dalat. During the 50s, Vietnam had a lot of political changes. The French were defeated and the country was divided at the 17th parallel. Dalat School, however, kept growing as new missionaries were appointed and high school students from other countries in Southeast Asia arrived at Dalat to study. In the early 60s, we had several U.S. military families living in Dalat and their children attending as day students. We were fast outgrowing our facilities, so a gym, a new boys' dormitory, and several classrooms were built to accommodate the growth.
With the escalation of the Vietnam war, missionaries who worked in neighboring countries questioned the wisdom of sending their children to Dalat. Was it safe? Then on Friday afternoon, April 16, 1965, The US. Embassy in Saigon notified us that they could no longer guarantee our safety. We would have 48 hours to pack up. It was Easter weekend. The choir sang their cantata as planned on Sunday morning, but the rest of the time was spent sorting, packing, and crating. Of course everything couldn't be taken. The librarian was allowed to choose 100 books. All file cabinets had slat crates build around them. The children's bicycles and pets were left behind. Four C-123 U.S. military planes transported the entire student body with its 11 tons of belongings to Bangkok, Thailand.

Bangkok, Thailand

"It was the worst of times" is how most people would describe our eight-month stay in Bangkok. The American Club was not built to be a school. Triple-deck beds made it possible to put 8 students in one room. That worked until the electricity went off, and there were no fans or air-conditioning. It never did work for 50 boys to have only 3 bathrooms. The teachers and students would often face flooded classrooms. The children were more interested in catching frogs than in doing schoolwork. The newly hired Thai cooks had no experience in cooking for Americans.
When doughnuts were served, too tough to eat, the students soon learned that they bounced and made excellent balls. Memories of Bep, their Vietnamese cook back in Dalat, came flashing back. He could prepare French, Vietnamese, and American cuisine fit for a king to eat.

Cameron Highlands, Malaysia

Six months later when administrators announced they had found a better place, it was easy to believe and accept. This time it was to be the Cameron Highlands of Malaysia. Tanah Rata, a sleepy little town in those days, had much in common with Dalat, Vietnam--cool weather, a rainy season, waterfalls, mountains to climb and trails to explore. The Eastern Hotel , in comparison with the American Club in Bangkok, looked like paradise, but it was not Dalat. To begin with, both students and staff lived in hotel rooms. Everyone ate all of their meals in the hotel-catered dining room. It was hard on families. New teaching couples who arrived in the summer of 1966 with several pre-school children were given two second-floor hotel rooms in which to live.

We held classes in hallways and tin-roofed quonset huts. When it rained you couldn't hear, much less think. Gradually small chalets were built to be used as classrooms and housing. We settled in and almost overwhelmed the little town. They were use to the British, but not Americans. Mr. Shee at Excell store did everything possible to accommodate us. His response to every request we made was "Can do, will order, two weeks, Madam."

The students loved climbing the mountains, catching butterflies, exploring the trails and swimming at the waterfalls. We had lots of cookouts and picnics. When Jim Thompson, the Thai silk tycoon, mysteriously disappeared, never to be heard from again, our high school boys got the day off from school to go hunting for him in the jungle. When President Johnson came to Kuala Lumpur for a visit, the US embassy invited our entire school to be on hand to greet him.
On one occasion, we all stopped at the police station to see the tiger that had been shot and brought in from the jungle. We made national and international news when one of our teachers, taking a wrong turn on a mountain jungle path, was lost for three days and three nights in the jungle. We loved the Highlands, but there were some drawbacks. The British military was withdrawing, and they were closing their hospital which previously was available to us in case of emergency. Those in need of a dentist or orthodontist had to make a two and one-half hour taxi ride to Ipoh. The school had grown to 180 students. Our compound seemed to shrink. The director, principal and business manager made trips to Singapore, Kuala Lumpur and Penang, searching for a better place. The withdrawal of the British military meant they would no longer need Sandycroft, here in Penang, as a rest and relaxation center. In February of 1971 we inquired about Sandycroft, but it was difficult to get any definite word. The timing wasn't right. We were told that we might have a three-percent chance of leasing it as others were interested.

Penang, Malaysia

Unknown to us at the time, a professor at the Baptist Seminary here in Penang had a special interest in Dalat. He had a daughter who wanted to attend. If Dalat moved to Penang that would be possible. On his way to work he would pull off to the side of the road in front of Sandycroft and pray that Dalat might obtain the lease. On April 19, 1971, six years to the day, from the date of our move from Dalat, Vietnam, to Bangkok, Thailand, our director and business manager made a trip to Kuala Lumpur and negotiated the lease for Sandycroft.

It was exciting news for nearly everyone, even though many people were sad to leave the Highlands. For some staff it was the third move in six years and they were not looking forward to it. On a long weekend in May before the school year ended, two van loads of staff and students headed for Penang to assess what had to be done in order to get Sandycroft ready for school in August. Mr. Baxter, the science teacher at that time, along with two senior boys, began gutting the building that would become the science lab. The building was full of shower stalls and toilets, complete with all of the plumbing. Muthu, Kumar and Rajin's father, had removed the plumbing fixtures and pipes. Then the two senior guys and their science teacher donned safety glasses and with sledge hammers smashed to smithereens brick, cement and tile, demolishing all of the stalls and cubicles. They returned to the Highlands covered with cuts and scratches but Mr. Baxter was overjoyed that he would now have a science lab and classroom of his own design. In Tanah Rata his science lab was an eight-foot-wide hallway.

In late June thirty-seven truck loads of school supplies, furniture and personal effects were loaded in Tanah Rata and unloaded in Penang, all within one week's time. The transformation of the British rest and relaxation center into a school took a lot of work. By the end of the summer the staff was exhausted. We as teachers were not used to physical labor and we were not used to the humidity and heat. I never wanted to see another paint brush or can of paint. On August 31, 1971, we had 214 students enrolled with one-fourth of them coming in as day students. Penang had so much to offer us. The beaches were beautiful. We were no longer an isolated school. Our boarding students could land at the Bayan Lepas airport and shortly thereafter be on campus instead of facing an eight-hour bus ride. Our coaches and athletes liked the MSSPP inter-school sports program. The choir and drama club had new opportunities to perform. We could attend concerts and drama productions sponsored by the Penang Arts Council and the British Council. The people of Penang welcomed us with open arms. It was a shopper's paradise. Jimmy, a young Chinese man who worked for the KK grocery store would pick up our individual shopping lists each morning and deliver the goods later in the day.

In those early days the student canteen, a little shack-like building, about 12 by 12 feet, situated right on the corner of where we presently have our student center, was the best kept and painted building on campus. Every year a high school class would claim a new side of the building, then paint an original design as well as large numbers indicating their year of graduation.

In those early years the seawall demanded constant repair. Truck load after truck load of rocks were brought in. Our high school boys spent many a Saturday carrying rocks to fill the huge black holes that would suddenly develop under the smooth cement facade. They worked two hour shifts and coordinated their work hours with the low tides, some getting up at 5 and 6 AM to make sure the cement got poured and somewhat dry before the tides came in. In the last 10 years we have added some major buildings. First it was the student center and then the gym. Thanks to fund raising by the PTF, the swimming pool became a reality in 1995. Retired British military personnel often stop by to reminisce about how things used to be. The empty skyline of 25 years ago is now filled with hotels and highrises. The old Bamboo Bar and the horse stables are long gone.

Penang and Sandycroft have changed but Dalat School remains much the same. Our students still think the most important part of school is their friends and social life; the parents still think Dalat is a safe place providing a quality education and we teachers still think that our students are the greatest and best. And Dalat International School continues to educate both missionary kids and day students.

God's faithfulness to us over the years is obvious: four locations in three different countries covering 75 years. To God be the glory; great things He has done.
*

Dalat xứ Hoa Anh đào

Dalat Xứ Hoa Đào
Đan Vy

Từ xưa, ngoài tên gọi Thành phố Ngàn thông, Ngàn hoa, Đà Lạt còn được gọi là Thành phố Mai anh đào hay Xứ hoa đào. Tuy nhiên cũng đã từ lâu Đà Lạt không còn xứng với tên gọi đó nữa.

Một thời gian dài, cây mai anh đào hầu như vắng bóng trên thành phố này. Chỉ còn sót lại một vài cội mai già đây đó còm cõi không đủ sức nở hoa. Thật buồn cho những người còn mơ mộng khi cất lên tiếng hát “Ai lên xứ hoa đào” quyến rũ một thời. Mấy gốc mai già bên đường nếu còn cố ra một vài cành để đơm nụ cũng bị người nào đó còn yêu hoa đào, chặt mang về nhà cho riêng mình.
Không ai cần giữ gìn một vẻ đẹp tưởng đã sắp đi vào quên lãng.

Hình như từ năm 1993, lúc Đà Lạt tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày bác sĩ Yersin phát hiện ra Đà Lạt, bắt đầu đặt lại tên đường và dựng tượng Yersin, người ta mới nghĩ đến chuyện gầy dựng lại xứ hoa đào. Tuy nhiên công việc này không mấy kết quả. Hàng năm, người ta đều tổ chức trồng cây, trong đó có mai anh đào, nhưng nếu không “trồng cây nào chết cây ấy” thì cũng chỉ sót lại vài cây còi cọc. Mà mai anh đào không phải là giống khó trồng. Đặc biệt đất của Đà Lạt rất phù hợp với giống cây này. Cứ đi vào các thung lũng ngay trong thành phố, các nhà vườn, ta sẽ thấy lũ chim đã làm việc này dễ dàng như thế nào. Khi mai anh đào kết trái, những trái mọng chín nho nhỏ tím thẫm, lũ chim tha đi khắp nơi, hạt rơi đến đâu mọc đến đó. Ấy thế mà bao nhiêu công sức tiền bạc đổ ra, mai anh đào được trồng trong những lễ lạc rùm beng vẫn không sống nổi, kể cả những cây cổ thụ người ta mua ở các vườn bứng mang về.

Nhưng rồi tín hiệu vui đã đến. Mấy năm gần đây, có thể do một cơ chế làm ăn mới nào đó, mai anh đào được khôi phục, chăm bón, trồng mới trên một số con đường bắt đầu có kết quả và mọi người đã có thể từ từ thấy lại mầu hoa ngày cũ mỗi độ đông tàn.

Đến cuối đông đầu xuân năm nay, Kỷ Sửu 2009, nhất là từ một tuần sau Tết Nguyên đán cho đến Nguyên tiêu (rằm tháng giêng), như một phép lạ, thành phố bỗng rực lên một mầu hồng như những ngọn lửa bập bùng êm dịu từ muôn vạn cánh hoa bé nhỏ. Hầu như ai cũng muốn reo lên “Mai anh đào nở hoa!”. Và mặc nhiên Đà Lạt lấy lại được mỹ danh ngày nào.

Đầu tiên, ẩn dấu dưới tàng thông đầu dốc Đinh Tiên Hoàng (gần Nhà Máy Nước cũ, con đường vòng phía bắc đồi Cù), một cội mai già cành tỏa rộng nở suốt từ gốc đến ngọn. Đây là một cây lão mai rất đẹp nhưng ít được chú ý vì khuất sau hàng thông và nép mình bên hồ nước, như một mỹ nhân phố núi một thời vang bóng lặng lẽ trở về chốn cũ.

Rồi dễ dàng nhận thấy khi các cây mai non từ từ mở những cánh hoa bé nhỏ e ấp dọc các đường 3 Tháng 4 (từ đèo Prenn dẫn vào thành phố), Yersin, Quang Trung… nhất là con đường vòng chung quanh hồ Xuân Hương, mỗi ngày mỗi thêm nồng nàn rực rỡ.

Nhìn qua những đám mây hồng dịu dàng này, thành phố bỗng dưng đổi khác. Khu Hòa Bình nhà bê tông san sát khô cứng chẳng khác gì mấy góc phố Sài Gòn sáng tươi lên cùng sắc hoa. Rặng thông và bãi cỏ đồi Cù im lắng trong vòng rào thẫm màu dưới trời chiều bớt vẻ âm u. Nhà hàng Thủy Tạ mảnh mai trắng thanh khiết bên hồ, và cả nhà hàng Thanh Thủy màu tím không mấy phù hợp với khung cảnh chung, cũng trở nên duyên dáng hơn. Tháp chuông xa xa in hình lên nền trời của trường Yersin cũ (nay là trường Cao Đẳng Sư Phạm), công trình xây dựng vốn nổi tiếng đẹp nhất Đông Nam Á càng thêm quyến rũ. Phải chăng là do “mầu hoa đào như môi hồng người mình yêu” trong lời bài hát cũ?.

Hoa mai anh đào không giống hoa đào Đà Lạt (còn gọi là đào lông, ra ít hoa và kết trái lớn), cũng không thẫm mầu nghiêng sang sắc đỏ như đào Nhật Tân - Hà Nội, cũng không giống anh đào Nhật Bản. Mai anh đào thân mảnh dẻ nhưng lâu năm có thể trở thành những cây cổ thụ cao lớn, tỏa tàn rộng, hoa nhỏ mầu hồng phớt tím, khi mới nở như những ngọn lửa nhỏ bập bùng, vài ngày sau đến độ mãn khai, toàn cây rực lên như một đám lửa hồng.

Từ dưới nhìn lên dốc Hòa Bình, bên phải là một hàng mai non dịu dàng đón khách, bên trái, trên sườn cỏ nghiêng, phía đầu dãy quán café phố núi, một cây mai không lớn nhưng đầy đặn, vững chải, đơn độc và như có chút kiêu kỳ, rạo rực liếc nhìn xuống nhân gian vội vã ngược xuôi trên đường.

Ba bốn cây mai còn thơ như mấy thiếu nữ nhí nhảnh đứng chụm vào nhau trò chuyện bên con đường dốc uốn lượn từ hồ lên nhà thờ Con Gà làm ai đi qua cũng ngoái nhìn lưu luyến.

Nhưng nơi hội tụ của những ngọn lửa hồng phớt tím làm cho người ta choáng váng chính là công viên Xuân Hương, trước khách sạn Palace, nhìn ra hồ. Công viên này mới được chỉnh trang vài năm nay, có cửa hàng của các hãng trà và mấy quán café giải khát bắt đầu đông khách. Sắc hoa mai anh đào làm sáng lên cánh rừng thông giữa phố, reo vui cùng tiếng nhạc vọng ra từ quán café, thắp hồng một cung đường, điểm sắc làm đẹp thêm mảnh trời xanh trên cao. Đặc biệt hai cây mai cổ thụ cuối công viên phía cầu Ông Đạo, cao ngất trời, đẹp ngất trời làm người yêu hoa sửng sốt.
Trên quãng đường này, không ai đi qua không dừng lại hay ngước mắt chiêm ngưỡng, không du khách nào có máy ảnh chịu bỏ qua cảnh sắc tuyệt vời hiếm hoi mà chỉ một hai tuần sẽ tàn phai, không còn lưu vết.

Có một con đường mới được đặt tên là Mai anh đào nhưng chẳng thấy cây đào nào cả. Đó là con đường khá dài chạy vòng từ Thung lũng Tình Yêu về phía Viện Nghiên cứu hạt nhân. Hai bên đường này là khu vực trồng rau, hoa, lúc nào cũng bốc mùi phân bón, thuốc trừ sâu nồng nặc. Loại sáng kiến nào đây thật trái cựa? Sao không đặt tên cho con đường cửa ngõ vào thành phố, nơi hoa đào đã được trồng khá nhiều, cứ gì lại phải lấy tên một ngày tháng mà nhiều người chẳng biết đó là ngày gì.

Có một nơi trồng hoa đào tập trung rất đẹp nhưng người ta lại không làm. Đó là công viên ngay phía dưới cầu Ông Đạo, nơi mới giải tỏa một phần của ấp Ánh Sáng, xây dựng khá công phu, trồng đủ thứ loại cây, có cầu, có ghế đá nhưng không mấy người đến vì trũng thấp và lối vào không thuận lợi. Nếu tất cả công viên này được trồng mai anh đào, chắc chắn Đà Lạt sẽ có một thung lũng hoa đào như mơ hớp hồn người nằm ngay giữa trung tâm thành phố. Dễ gì có thành phố nào được mang tên Xứ Hoa Đào. Chắc chắn đây sẽ là một thương hiệu du lịch, một tên gọi đầy quyến rũ đối với du khách bốn phương, nhất là đến mùa hoa rực rỡ như năm nay.

Mai anh đào. Chỉ một hai tuần thôi. Loài hoa nào mà chẳng chóng tàn nhưng vẻ đẹp của sắc hương trời đất vẫn còn đó, trong tâm tưởng, trong hoài niệm, trong sự thánh thiện của thiên nhiên và hồn người làm cho thế giới này bớt u ám và buồn đau.

Đan Vy
*

vrijdag 31 juli 2009

Dalat - Le Petit Paris

From Wikitravel

Jump to: navigation, search


Dalat, also Da Lat (Đà Lạt), located in the South Central Highlands of Vietnam, was originally the playground of the French who built villas in the clear mountain air to escape the heat and humidity of the coast and of Saigon, now known as Ho Chi Minh City.

Understand

Dalat looks like a cross between Vietnam and the French Alps. Many of its hotels and houses are built in a French style. The city spreads across a series of pine-covered hills, with a small lake in the center and surrounded by higher peaks, making for some lovely scenery quite different from the rest of Vietnam. Temperatures are pleasantly warm by day, and quite cool at night, down to perhaps 10C.

Dalat is very much a tourist town. Tour buses by the dozen run up and down its hills, and small hotels line its streets. The vast majority of visitors are Vietnamese on short package tours, drawn by the scenery, vivid blue skies, fresh air, flower-filled parks, and local edible treats. Dalat is a favorite destination for company weekend outings, family get-aways, and honeymoons. Most guidebooks for overseas visitors describe Dalat as a cheesy town with tacky tourist sites, which is partly true. Attend a "mountain tribe" dance performance, and your eyes might get stuck in the upward-rolled position. But Dalat remains a pleasant stop on a north-south tour, or a pleasant outing from Saigon. For overseas visitors, it offers mostly a chance to cool down, observe the Vietnamese at play, view a bit of the French legacy, and enjoy the atmosphere.

Dalat is also surrounded by some of the best mountain biking, hiking and canyoning opportunities in Vietnam.

Dalat's high altitude (1500-2000 m) and fertile landscape make it one of Vietnam's premier agricultural areas, producing varieties of fruits, vegetables and flowers that don't grow in the lowlands. In markets as far north as Hanoi, vegetable and flower vendors will tout their "made in Dalat" produce.

Get in

Most local and foreign travellers arrive in Dalat by bus, particularly on the famous Sinh Cafe Hanoi-HCMC bus route. From Nha Trang, the bus ride is about 5 hours, with the obligatory stop at a dilapidated Cham temple/tourist site. From Ho Chi Minh City, the bus ride is about 6-7 hours.

There are various travel agencies in the town that can book buses to all parts of the country.
Alternatively, catch the local coach at HCMC, BienHoa, PhanRang, NhaTrang,BuonMa Thuot.
The airport, 30 km south of the city, has daily Vietnam Airlines flights to HCMC and Hanoi.

Get around

Depending on where you stay, you can walk to most parts around town. You can catch a Xe Om (motorbike taxi) from most corners, so if you're going somewhere farther out of town, you have a fast way to get there. Taxis are also abundant and reasonable in price.
You can also rent a motorbike by the day.
Alternatively, see the Do "Easy Riders" section, below.

See

Dalat Countryside

Packaged day tours are easily purchased round town, which will take you to a variety of sites. (An indignity not uncommon in the developing world -- visitors from outside Vietnam are often required to pay double what Vietnamese pay for admission to many places when visiting individually.)

Tours typically include a handful of stops like the following:
The summer home of the colonial-era king of Vietnam which is modestly interesting.
A striking, not-quite-finished fantasy house designed by the daughter of an independence war hero. Worth a visit if you are interested in architecture, or like Dr. Seuss-style surroundings.
A set of flower gardens centered around a re-constructed traditional Vietnamese teakwood house.

A hill-top pagoda coupled with a brief cable car ride over the pine forest.
A ride in a land rover up to the top of Langbiang mountain, with nice views of Dalat and the surrounding mountains and valleys.

Other sites of interest:

Ho Xuan Huong (Hồ Xuân Hương) aka Xuan Huong lake, center of town. Open daily, all hours. No admission fee but rental fees vary if you want to boat. Approximately 5km in diameter, this lake was made after two dams on the Camly river were destroyed during a storm in the 1930s. Now, Xuan Huong lake is one of the main draws of Da Lat, and you can see honeymooners and locals strolling its banks. Many nice hotels have a view of the lake.

Da Lat market filled with local specialities: strawberry jam, fruits conserves, avocado, artichoke.

Da Lat train station: take the steam train through the 17km historical line to Trai Mat, from there you can visit the Linh Phuong pagoda.

Ho Suoi Vang (Golden Spring lake). Rather unspoiled scenery.

Monastery, at the top of where the cable car drops you off. The monastery has a magnificent view over the dams below and its gardens are full of landscaped shrubs in animal form - very comic! Extremely peaceful - a great place to relax and soak in the tranquility.

Lang Biang mountain. The 1,900m peak is reachable by a paved path, ideal for a 3 hours hike. Also visit the minorities village under the mountain foot.

Thung Lung Tinh Yeu (Thung Lũng Tình Yêu) aka Valley of Love, Phu Duong Thien Vong street. Open daily until 5PM. Admission fee under US$1. About 5km outside of town, the Valley of Love is common stop on Dalat tours and is very popular with honeymooners. The Valley of Love is also a great spot for canyoning. See contact info below for canyoning operators.

Lake of Sorrow or Lake of Sighs, 5km northeast of town on Ho Xuan Huong road. Admission fee under US$1. The Lake of Sorrow is another common destination in Dalat. The Lake of Sorrow is so-named because of a tale of two lovers, one who committed suicide after the other was called up to serve in the army. The exact tale changes depending on the age and gender of the storyteller!

Tuyen Lam Lake (Hồ Tuyền Lâm), 5km south of town on highway 20. Its clean green waters flow from the beautiful Tia Spring and from the Da Tam River, which flows down from Voi mountain. Its waters stretch over an immense 350 hectares and because of its various sources, Tuyen Lam is known as the lake where rivers, springs and forests meet. The lake was built in the 80s. It is one of the largest and most beautiful lakes in town. The other side of the lake is the Voi mountain which is a good place for hiking.

Prenn Falls, At the foot of Prenn Pass, about 10km outside of town. Open daily until 5PM. Admission fee under US$1. A very common stop on a typical Dalat tour, Prenn Falls is quite beautiful but is a lot more fun when you're hiking it than just taking pictures of it.

Pongour Falls, 30km south of town on highway 20, it's one of the largest and widest waterfalls in Vietnam and during the wet season is a magnificent sight. From memory it's about 100+ metres wide.

Do

Touring Central Highlands with the Easy Riders

Easy Riders [1] (a motorbike and driver/guide) is a great way for a non-motorcyclist to tour the central highlands, providing access to places you would otherwise never know about. They speak good English, are from local villages, seemingly know everyone, and will probably find you before you find them. In the case they do not find you at a good time, many often hang out in the Peace Cafe, which is attached to Peace Hotel 1. You will know the driver is legit when you are presented with a book, full of praise from other excited tourists. From about US$20/person for an 8 hour tour, up to US$60/day for long distance multi-day trips, often including accommodation.

Phat Tire Ventures, 73 Truong Cong Dinh , phone - 063-829422, fax - 063-820331, cell - 0918438781, info@phattireventures.com [2]. Trips run daily with extended trips outside Dalat also available. Founded by Brian and Kim Vierra, Phat Tire Ventures combines American technology and safety methods with local knowledge of trails and communities to deliver an outstanding adventure experience. Hike the highlands, making your way across sketchy bridges, to meet hill tribes that barely experience foreigners. Or, canyon the Valley of Love and enjoy the stunned faces of honeymooners as you pace with climbing gear over your shoulder. And, best of all, bike through coffee farms to Bao Dai palace or to the Bamboo forest and enjoy stunning views of Dalat's many lakes and rivers.

Vespa Vietnam Adventures [3],highly recommended. This departs from Ho Chi Minh City. Couple: $US 3995, Single: $US 2785

University of Dalat, 1 Phu Dong Thien Vuong Street. Students from the Hand-in-Hand Club are eager to serve as free guides.

Buy

Most visitors to Dalat are Vietnamese, and most of them leave loaded with stuff. What they like to take home is dried and candied fruits, strawberry preserves, coffee, green and artichoke tea, local wine, dried venison, orchids, strawberries, avocados, and other fresh produce. If you take any sort of organized tour, chances are you will be off-loaded for a half hour at a shop selling these items. Local treats are also for sale in abundance in the large central market. Part covered and part outdoor, the market has dozens of small stalls selling also fruits and vegetables, clothing, and a wide variety of other goods. Strolling around the market is a favorite evening activity, and every night it buzzes with thousands of sweater-clad visitors.

Dalat does not offer lot of high-end handicrafts of the sort favored by overseas tourists. Dalat is famous, however, for its beautifully crafted silk embroidered pictures, which can be purchased at a massive mark up from the many galleries around Dalat or at a fraction of the price from the central Dalat market.

Dalat also has an abundance of fruit, vegetables and flowers available for purchase if you plan to stay for a few days and want to liven up your hotel room or cook your own meals.

Eat

Dalat has countless restaurants to serve the tourist crowds, but they are mostly oriented to packaged tours with strict budgets, and specialize in dishing out mediocre food to large groups. Finding good food in Dalat is not easy. Since nearly all visitors are Vietnamese, western food is scarce.

Dalat (Central) Market / Chợ Đà Lạt, center of town. Open daily until early evening. Given its breadbasket status, Dalat's Central Market place is the best place in town to eat fresh fruits and vegetables. Near the entrance, there is a lively and always busy vegetable restaurant that serves excellent soups. A tiny vegetarian food stall is located in a corner of the second level.

Golf Course Pro Shop, open daily until about 8PM. If you are craving quesidillas and haven't had Mexican in the months you've backpacked through Asia, you will find what you're looking for at the Pro Shop. It's little bit out of the way, but the quesidillas, chips and guacamole are excellent. And, the beer is always cold.

Dã Quỳ / Wild Sunflower Restaurant (49 Truong Cong Dinh) offers very high-quality French & Vietnamese cuisine at reasonable prices by Western standards. The owner is extremely lovely and helpful. We fell ill during our stay in Dalat and he made us simple broth everyday, even offering to deliver it to our hotel.

Peace Café next to Peace Hotel 1 offers some of the cheapest (and tastiest) eats in Dalat.

Sunshine Town" (Ap Anh Sang) has traditional food quite cheap in clean surroundings, right out the circle.

Âu Lạc, Bui Thi Xuan Street, offers good vegetarian food.

Drink

Larry's Bar, 12 Tran Phu (at the base of the Sofitel Dalat Palace Hotel). Open every night. The Sofitel Dalat Palace was championed by Larry Hillblom, who saved the palace from obscurity and demolition and who also happened to have lots of American dollars to spend as the founder of DHL. Larry's Bar pays homage to Larry's Brit background. Library-style with dark wood paneling, darts and lots of good beer and nuts available. Great place to relax after a day of biking or hiking.

Y-Niem Cafe and Nightclub, beautiful architectural design and exceptional service.

Cafe Tung', really nice cafe. The delicious Vietnamese coffee costs 8000 dong and is served with tea.

Sleep

Accommodation in Dalat is very reasonable in the 'off-season', for as little as US$4 per night for a perfectly presentable hotel room with double bed and ensuite.

Hoa Binh 1 Hotel, also known as Peace Hotel 1, is anything but peaceful, and fills to capacity on weekends. But staff are friendly, rooms are available from US$4/night, and there is a cafe next door. peacedalat@gmail.com

Peace Hotel is where the Peace Cafe is in the LP. Has wi-fi and you can book breakfast for 1 additional dollar. Rooms from about 7 dollar. 8 dollar for street view.

Golf 1 Hotel 3 star hotel at Dinh Tien Hoang Street, rates US$20-40. 5 minute walk to Xuan Huong lake and Dalat market.

Golf 2 hotel 3 star hotel at 3rd February Street, located at the center of the city, 5 minutes to the Peace square, center of Dalat City.

Golf 3 hotel 3 star hotel at Nguyen Thi Minh Khai Street, next to Dalat Market, 3 minute walk to Xuan Huong lake and Peace Square.

Sofitel Dalat Palace Hotel the only 5-star hotel in Dalat, built with French architecture in the 1920s. It has beautiful garden, locates right at the central of the city, great view to Xuan Huong lake. It also has a 18-hole golf court, among the most beautiful in Vietnam.

Novotel dalat 4-star hotel in dalat, built in 1930s also with Frech architecture right besides Sofitel Dalat Palace Hotel.

Empress Hotel Dalat 5, Nguyen Thai Hoc Street, Lam Dong Province

Ngoc Lan hotel4-star hotel in the center of Dalat city, on a poetic hill and overlooking the picturesque Xuan Huong lake, Ngoc Lan has been a favorite hotel of most travelers to Dalat for many years.

Hoang anh Dalat resort The resort covers five hectares, is comprised of six villas with 75 rooms in total.

Sofitel Palace hotel The Sofitel Palace Hotel, Dalat is set on sweeping lawns, sited along the picturesque Xuan Huong Lake.

Dreams Hotel 151 and 164B Phan Dinh Phung Street, clean rooms, friendly staff and full breakfast.

Try the Ngoc Quynh Hotel_2 Yersi, about 2km from the centre, good overview, cheap and also very friendly.

Or you may want to stay near the student centre, try the Sakura Hotel on Bui Thi Xuan Street. This street is full of cheap hotels.

In the centre, opposite the market, Nguyen Chi Thanh Street also offers cheap lodgings.

Ana Mandara Villas Dalat Resort & Spa, ☎ 0084 (63) 555 888, [4]. Ana Mandara Villas Dalat Resort & Spa is a tranquil sanctuary nestled on the gentle slopes of Vietnam’s rural highlands.

This five star resort houses 65 well-appointed guestrooms that are ensconced in 17 fully refurbished French colonial villas. Its room amenities includes air-conditioning, cable TV, Internet access, telephone, coffee/ tea maker, room safe, hair dryer, and toilet and bath with tub and shower. Le Lai Street, Da Lat, Vietnam. edit

Get out

Thêm một số hình ảnh Dalat:
http://www.vietnampictures.org/dalat-pictures.aspx

*****