Thác Hang Cọp (12/01/09)
Thác Hang Cọp toạ lạc tại thôn Tuý Sơn, xã Xuân Thọ, thành phố Đà Lạt.
Trên quốc lộ 20, qua khỏi Trại Mát, đến cây số 13, rẽ trái, xe chạy tiếp trên một con đường dốc quanh co dài 2,7km giữa rừng thông bạt ngàn sẽ đến thác Hang Cọp.
Vào năm 1950, nơi đây là một khu rừng rậm với nhiều loài thú, chim muông quý hiếm, trong đó có loài thú dữ nhất của muôn loài, thường gọi là “chúa tể sơn lâm” hay “Ông 30”, thường hay trú ẩn trong một hang động với hai cửa ra vào gần đầu thác về phía hữu ngạn dòng suối. Vào thời điểm ấy, những người thợ săn cũng tìm đến vùng đất này. “Ông 30” đã bị một thợ săn người Chil bắn trọng thương một chân. Lồng lộn, đau đớn vì vết thương, “Ông 30” giận dữ, cào cấu, gầm thét lên từng hồi vang động cả cánh rừng, rồi uất hận rời hang, lao mất hút vào rừng sâu. Từ ấy, mọi người không còn hoang mang, hoảng sợ loài thú dữ nơi vùng đất thiêng hoang dã này, và tên gọi thác Hang Cọp được khai sinh từ năm đó.
Trong vườn hoa, du khách nhìn thấy tượng một con cọp to lớn đang thư thả dạo chơi. Cạnh đó, một gia đình cọp quây quần gần những cây nấm khổng lồ. Bức tượng chàng dũng sĩ trong tư thế hiên ngang gợi nhớ đến người thợ săn thuở nào.
Gần hang cọp, một chiếc cầu treo đong đưa bắc ngang dòng suối đưa du khách đến một đồi thông. Nếu leo ngược lên đồi thông, du khách sẽ gặp một con đường rừng dẫn đến buôn làng của đồng bào dân tộc thiểu số cách thác khoảng 8km. Nếu ngại đường xa, du khách có thể thuê xe chuyên dụng đến buôn làng, ở lại sinh hoạt với đồng bào.
Từ vườn hoa, du khách đi xuống vực sâu trên một con đường dốc với gần 150 bậc cấp bằng xi măng. Đến chân thác, hơi nước toả mù như sương, khí đá ẩm ướt bốc ra lạnh ngắt. Trước mắt du khách là thác nước cao khoảng 25m, rộng hơn 10m. Dòng nước trắng xoá từ trên cao đổ xuống một hố sâu rồi theo dòng suối, lách qua những tảng đá lớn rồi chảy trong khu rừng nguyên sinh rậm rạp.
Cảnh vật quanh thác còn hoang dã, môi trường trong lành, phù hợp với du khách ưa thích loại hình du lịch sinh thái.
Hiện nay, Khu du lịch thác Hang Cọp do Doanh nghiệp tư nhân Hoàng Tâm I quản lý. Ngoài công việc đầu tư xây dựng Khu du lịch ngày càng hấp dẫn hơn, Công ty còn tổ chức các dịch vụ: ăn uống, giải khát; tham quan buôn làng; cắm trại dã ngoại; cho thuê lều bạt,…
Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
*
maandag 3 augustus 2009
Thác Datanla
Thác Datanla (09/01/09)
Khu du lịch thác Datanla rộng 312ha nằm ven quốc lộ 20 gần đèo Prenn, cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 5km về phía nam và thuộc phường 3.
Datanla có thể giải thích theo hai cách:
* Datanla do cụm từ dà tàm n’ha (nước dưới lá).
* Datanla do cụm từ dà plah: suối mây(dà: suối, plah: cây mây).
Dòng suối Datanla từ hồ Tuyền Lâm chảy ngoằn ngoèo giữa những cánh rừng thông, rừng nguyên sinh rậm rạp, dây leo chằng chịt,… rồi đổ xuống thác.
Nằm trong khu rừng dự trữ nên thác Datanla còn mang vẻ đẹp hoang dã. Thác cao 20m, độ nghiêng thác khoảng 75o. Nước đổ mạnh trên những tảng đá nhiều tầng chồng chất giữa hai triền dốc tạo thành nhiều thác liên tiếp. Một chiếc cầu xi măng cốt thép dáng hình cầu vòng nối liền hai bờ suối.
Dưới chân thác, dòng suối Datanla chảy chậm lại, luồng lách qua những mỏm đá rồi chảy vào một hố sâu gọi là “Vực Tử Thần” nằm giữa hai bên vách đá thẳng đứng cao hơn 40m.
Muốn xuống tham quan thác, du khách có thể đi bộ hay sử dụng hệ thống xe trượt ống.
Du khách đi bộ theo một trong hai con đường dốc quanh co với trên 200 bậc cấp trong khoảng 15 phút.
Hệ thống xe trượt ống (máng trượt) do hãng Wiegand (Cộng hoà Liên bang Đức) sản xuất theo công nghệ hiện đại của châu Âu và khánh thành ngày 25-5-2006. Đây là một hệ thống khép kín gồm 2 tuyến: tuyến trượt (tuyến xuống) và tuyến kéo (tuyến lên). Hệ thống gồm 48 xe trượt đôi với công suất tối đa 700 người/giờ. Mỗi xe có hệ thống thắng tay giúp du khách chủ động điều khiển tốc độ tuỳ theo ý muốn. Trên tuyến xuống dài hơn 800m, xe nghiêng gần 40o tại các đoạn lượn quanh. Hai bên tuyến xuống và lên đều có hành lang bảo vệ và lưới an toàn. Với tốc độ xe trượt 40km/giờ, du khách chỉ mất khoảng 2 phút là đến chân thác, vừa tiết kiệm được thời gian, vừa có cảm giác mạo hiểm hào hứng. Trên tuyến lên theo đường thẳng đứng dài 200m, xe trượt kẹp chặt vào dây cáp và di chuyển nhờ dây cáp chuyển động.
Hệ thống thác Datanla ngoài thác chính dành cho khách tham quan còn có nhiều thác khác rất hùng vĩ nhưng đường rất khó đi. Khu du lịch Datanla hợp tác với Công ty trách nhiệm hữu hạn Hồng Bàng tổ chức các trò chơi mạo hiểm dành cho du khách thích phiêu lưu, leo vách đá, băng rừng, đi theo dòng suối Datanla đến cầu Prenn.
Nhà hàng Datanla nằm ngay lối cổng đi vào được thiết kế theo kiểu nhà sàn, lợp tranh. Với sức chứa khoảng 150 khách, phục vụ điểm tâm, ăn trưa, ăn chiều, giải khát với khung cảnh đẹp nên thơ, hữu tình và thân thiện. Đặc biệt, thịt heo đặc sản rất được ưa chuộng. Ngoài ra, nhà hàng Datanla còn nhận phục vụ cơm đoàn, tiệc buffet và âm nhạc cồng chiêng tuỳ theo yêu cầu của khách.
Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
.
Khu du lịch thác Datanla rộng 312ha nằm ven quốc lộ 20 gần đèo Prenn, cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 5km về phía nam và thuộc phường 3.
Datanla có thể giải thích theo hai cách:
* Datanla do cụm từ dà tàm n’ha (nước dưới lá).
* Datanla do cụm từ dà plah: suối mây(dà: suối, plah: cây mây).
Dòng suối Datanla từ hồ Tuyền Lâm chảy ngoằn ngoèo giữa những cánh rừng thông, rừng nguyên sinh rậm rạp, dây leo chằng chịt,… rồi đổ xuống thác.
Nằm trong khu rừng dự trữ nên thác Datanla còn mang vẻ đẹp hoang dã. Thác cao 20m, độ nghiêng thác khoảng 75o. Nước đổ mạnh trên những tảng đá nhiều tầng chồng chất giữa hai triền dốc tạo thành nhiều thác liên tiếp. Một chiếc cầu xi măng cốt thép dáng hình cầu vòng nối liền hai bờ suối.
Dưới chân thác, dòng suối Datanla chảy chậm lại, luồng lách qua những mỏm đá rồi chảy vào một hố sâu gọi là “Vực Tử Thần” nằm giữa hai bên vách đá thẳng đứng cao hơn 40m.
Muốn xuống tham quan thác, du khách có thể đi bộ hay sử dụng hệ thống xe trượt ống.
Du khách đi bộ theo một trong hai con đường dốc quanh co với trên 200 bậc cấp trong khoảng 15 phút.
Hệ thống xe trượt ống (máng trượt) do hãng Wiegand (Cộng hoà Liên bang Đức) sản xuất theo công nghệ hiện đại của châu Âu và khánh thành ngày 25-5-2006. Đây là một hệ thống khép kín gồm 2 tuyến: tuyến trượt (tuyến xuống) và tuyến kéo (tuyến lên). Hệ thống gồm 48 xe trượt đôi với công suất tối đa 700 người/giờ. Mỗi xe có hệ thống thắng tay giúp du khách chủ động điều khiển tốc độ tuỳ theo ý muốn. Trên tuyến xuống dài hơn 800m, xe nghiêng gần 40o tại các đoạn lượn quanh. Hai bên tuyến xuống và lên đều có hành lang bảo vệ và lưới an toàn. Với tốc độ xe trượt 40km/giờ, du khách chỉ mất khoảng 2 phút là đến chân thác, vừa tiết kiệm được thời gian, vừa có cảm giác mạo hiểm hào hứng. Trên tuyến lên theo đường thẳng đứng dài 200m, xe trượt kẹp chặt vào dây cáp và di chuyển nhờ dây cáp chuyển động.
Hệ thống thác Datanla ngoài thác chính dành cho khách tham quan còn có nhiều thác khác rất hùng vĩ nhưng đường rất khó đi. Khu du lịch Datanla hợp tác với Công ty trách nhiệm hữu hạn Hồng Bàng tổ chức các trò chơi mạo hiểm dành cho du khách thích phiêu lưu, leo vách đá, băng rừng, đi theo dòng suối Datanla đến cầu Prenn.
Nhà hàng Datanla nằm ngay lối cổng đi vào được thiết kế theo kiểu nhà sàn, lợp tranh. Với sức chứa khoảng 150 khách, phục vụ điểm tâm, ăn trưa, ăn chiều, giải khát với khung cảnh đẹp nên thơ, hữu tình và thân thiện. Đặc biệt, thịt heo đặc sản rất được ưa chuộng. Ngoài ra, nhà hàng Datanla còn nhận phục vụ cơm đoàn, tiệc buffet và âm nhạc cồng chiêng tuỳ theo yêu cầu của khách.
Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
.
Thác Camly
Thác Camly (12/01/09)
Thác Cam Ly chỉ cách khu Hoà Bình khoảng 2km về phía tây, gần cuối đường Hoàng Văn Thụ. Đây là thác nước gần trung tâm thành phố Đà Lạt nhất.
Suối Cam Ly bắt nguồn từ khu rừng Đa Ra-hoa (huyện Lạc Dương) và nhận nước từ các núi Láp-bê Nam (Labbé Sud), Láp-bê Bắc (Labbé Nord). Sau khi qua địa phận thành phố Đà Lạt, suối Cam Ly tiếp tục chảy qua huyện Lâm Hà và nhập vào sông Đạ Đờng (thượng nguồnsông Đồng Nai).
Tuỳ vùng, chữ Cam Ly được giải thích khác nhau theo truyền thuyết:
* Theo lời kể của ông Chil Long ở xã Tà Nung, trong thời kỳ xa xưa thác Cam Ly gọi là Liang Sra. Gần thác có một buôn của người Lạch nằm ở đường Ma Trang Sơn, Yagut, Trần Bình Trọng, Lê Lai và Hoàng Diệu ngày nay. Chủ làng là ông Yagut Hamon có người con trai là Dam M’Ly hay Mon M’Ly. Thực dân Pháp đã trừng phạt Dam M’Ly rất tàn nhẫn. Chúng trói Dam M’Ly bên bìa rừng, cạnh tổ kiến và tổ ong cho tới khi nào Dam M’Ly chịu hàng phục, nhưng anh đã cắn răng chịu đựng những cơn đói cồn cào, những cơn đau nhức nhối, một mực không khai. Anh không hề kêu cứu, van xin, chỉ nhìn trân trân vào lũ thực dân gian ác. Ngày nắng, đêm sương làm cơ thể Dam M’Ly nhão mềm, rồi Dam M’Ly từ trần. Người cha già thương con, bất chấp họng súng của kẻ thù, tiến đến ôm xác con và khóc như hổ gầm, voi rống, rồi chết cùng đứa con. Từ đó bà con dân tộc Cơ Ho của vùng Đạ Lạch gọi thác Liang Sra là Liang Mon M’Ly. Qua quá trình biến đổi ngữ âm, từ Mon M’Ly được chuyển thành Cam Ly.
Hiện nay, tại thác Cam Ly có một ngọn đèn thần Bana làm bằng bê tông giả cây và giữa thân cây có khắc tên Mon M’Ly và Dam M’Ly.
* Theo lời kể của ông Dagut K’Mlơi ở xã Lát, khi chuyên viên trắc địa người Pháp hỏi già làng K’Mlơi thác nước tên gì, ông tưởng hỏi ông tên gì nên trả lời: “K’Mlơi”. Người Pháp ghi K’Mlơi là Camly. Từ đó, từ Camly được dùng để gọi tên thác và dòng suối Cam Ly.
Khu du lịch thác Cam Ly gồm 3 khu vực: thác Cam Ly, đài tưởng niệm, lăng Nguyễn Hữu Hào.
Thác Cam Ly không ồn ào, hung dữ. Dòng nước chảy nhẹ nhàng, êm ái qua các ghềnh đá hoa cương tựa như mái tóc buông xoả của một thiếu nữ. Một chiếc cầu bắc ngang dòng suối để du khách đi từ bên này sang bên kia suối, chiêm ngưỡng hết vẻ đẹp của dòng thác và khung cảnh xung quanh. Những nhà dù lợp tranh trông hoang dã để du khách nghỉ chân và ngắm những hạt nước bắn tung toé, lấp lánh như những hạt pha lê dưới ánh mặt trời. Du khách có thể cưỡi ngựa, chụp hình, dạo cảnh vòng quanh thác.
Đài tưởng niệm được xây dựng vào năm 2003 trên triền đồi thông gần thác Cam Ly, hướng về phía tây-nam để tưởng niệm 20 chiến sĩ hy sinh vì Tổ quốc.
Vào lúc 20 giờ ngày 11-5-1951, thực dân Pháp đã đẩy 20 tù chính trị lên chiếc xe bịt bùng, đưa đến khu rừng gần sân bay Cam Ly, rồi gọi tên hai người một xuống xe, lần lượt bắn chết những người tù. Trong số 20 chiến sĩ ấy chỉ có bà Nguyễn Thị Lang còn sống sót.
Lăng Nguyễn Hữu Hào được xây dựng vào năm 1939 theo những quy chuẩn mang đậm nét văn hoá phương Đông.
Lăng ở một vị trí đẹp theo thuyết phong thuỷ của người xưa, trên đồi thông cao 1523m so với mặt nước biển, rộng 16ha, quanh năm lộng gió, ngoảnh mặt về hướng tây-nam. Phía trước là thung lũng mở rộng ra một khoảng lớn, con suối nhỏ hình vòng cung ôm lấy chân đồi dẫn nước xuôi về nhập với dòng suối Cam Ly.
Kiến trúc lăng đẹp, đơn giản nhưng tiềm ẩn nhiều giá trị mỹ thuật hấp dẫn, góp phần làm phong phú thêm hệ thống di tích triều Nguyễn tại Đà Lạt.
*
Cam Ly đã đi vào lòng người Đà Lạt nói riêng và du khách nói chung, ngấm vào tâm hồn của nhà thơ, nhạc sĩ, đi vào thế giới thi ca và nhạc hoạ:
“Cam Ly cảnh đẹp trong mơ
Rừng thông, thác nước, sương mờ còn say”
Để tạo thêm nét đẹp cho thác Cam Ly, đồng thời bảo vệ, tôn tạo một thắng cảnh đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia ngày 2-12-1998, chính quyền thành phố Đà Lạt đã cho khởi công xây dựng, mở rộng, cải tạo dòng chảy của suối Cam Ly vào đầu năm 2000 nhằm chống ô nhiễm môi trường và xây hồ lắng sinh học trước khi cho dòng nước đổ về thác Cam Ly. Cùng với dự án trên, Công ty Cổ phần Dịch vụ Du lịch Đà Lạt thực hiện dự án đền bù, giải toả, xây dựng các công trình kiến trúc văn hoá, lịch sử, thác nước, hồ, suối trên diện tích 40ha và trồng gần 20ha rừng thông để cải tạo thác Cam Ly thành khu du lịch sinh thái và tham quan, nhằm tạo cho du khách sự thư giãn, thoải mái khi dừng chân tại thác Cam Ly, để vẻ đẹp thơ mộng của cảnh quan mãi mãi đọng lại trong lòng du khách.
Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
*
Thác Cam Ly chỉ cách khu Hoà Bình khoảng 2km về phía tây, gần cuối đường Hoàng Văn Thụ. Đây là thác nước gần trung tâm thành phố Đà Lạt nhất.
Suối Cam Ly bắt nguồn từ khu rừng Đa Ra-hoa (huyện Lạc Dương) và nhận nước từ các núi Láp-bê Nam (Labbé Sud), Láp-bê Bắc (Labbé Nord). Sau khi qua địa phận thành phố Đà Lạt, suối Cam Ly tiếp tục chảy qua huyện Lâm Hà và nhập vào sông Đạ Đờng (thượng nguồnsông Đồng Nai).
Tuỳ vùng, chữ Cam Ly được giải thích khác nhau theo truyền thuyết:
* Theo lời kể của ông Chil Long ở xã Tà Nung, trong thời kỳ xa xưa thác Cam Ly gọi là Liang Sra. Gần thác có một buôn của người Lạch nằm ở đường Ma Trang Sơn, Yagut, Trần Bình Trọng, Lê Lai và Hoàng Diệu ngày nay. Chủ làng là ông Yagut Hamon có người con trai là Dam M’Ly hay Mon M’Ly. Thực dân Pháp đã trừng phạt Dam M’Ly rất tàn nhẫn. Chúng trói Dam M’Ly bên bìa rừng, cạnh tổ kiến và tổ ong cho tới khi nào Dam M’Ly chịu hàng phục, nhưng anh đã cắn răng chịu đựng những cơn đói cồn cào, những cơn đau nhức nhối, một mực không khai. Anh không hề kêu cứu, van xin, chỉ nhìn trân trân vào lũ thực dân gian ác. Ngày nắng, đêm sương làm cơ thể Dam M’Ly nhão mềm, rồi Dam M’Ly từ trần. Người cha già thương con, bất chấp họng súng của kẻ thù, tiến đến ôm xác con và khóc như hổ gầm, voi rống, rồi chết cùng đứa con. Từ đó bà con dân tộc Cơ Ho của vùng Đạ Lạch gọi thác Liang Sra là Liang Mon M’Ly. Qua quá trình biến đổi ngữ âm, từ Mon M’Ly được chuyển thành Cam Ly.
Hiện nay, tại thác Cam Ly có một ngọn đèn thần Bana làm bằng bê tông giả cây và giữa thân cây có khắc tên Mon M’Ly và Dam M’Ly.
* Theo lời kể của ông Dagut K’Mlơi ở xã Lát, khi chuyên viên trắc địa người Pháp hỏi già làng K’Mlơi thác nước tên gì, ông tưởng hỏi ông tên gì nên trả lời: “K’Mlơi”. Người Pháp ghi K’Mlơi là Camly. Từ đó, từ Camly được dùng để gọi tên thác và dòng suối Cam Ly.
Khu du lịch thác Cam Ly gồm 3 khu vực: thác Cam Ly, đài tưởng niệm, lăng Nguyễn Hữu Hào.
Thác Cam Ly không ồn ào, hung dữ. Dòng nước chảy nhẹ nhàng, êm ái qua các ghềnh đá hoa cương tựa như mái tóc buông xoả của một thiếu nữ. Một chiếc cầu bắc ngang dòng suối để du khách đi từ bên này sang bên kia suối, chiêm ngưỡng hết vẻ đẹp của dòng thác và khung cảnh xung quanh. Những nhà dù lợp tranh trông hoang dã để du khách nghỉ chân và ngắm những hạt nước bắn tung toé, lấp lánh như những hạt pha lê dưới ánh mặt trời. Du khách có thể cưỡi ngựa, chụp hình, dạo cảnh vòng quanh thác.
Đài tưởng niệm được xây dựng vào năm 2003 trên triền đồi thông gần thác Cam Ly, hướng về phía tây-nam để tưởng niệm 20 chiến sĩ hy sinh vì Tổ quốc.
Vào lúc 20 giờ ngày 11-5-1951, thực dân Pháp đã đẩy 20 tù chính trị lên chiếc xe bịt bùng, đưa đến khu rừng gần sân bay Cam Ly, rồi gọi tên hai người một xuống xe, lần lượt bắn chết những người tù. Trong số 20 chiến sĩ ấy chỉ có bà Nguyễn Thị Lang còn sống sót.
Lăng Nguyễn Hữu Hào được xây dựng vào năm 1939 theo những quy chuẩn mang đậm nét văn hoá phương Đông.
Lăng ở một vị trí đẹp theo thuyết phong thuỷ của người xưa, trên đồi thông cao 1523m so với mặt nước biển, rộng 16ha, quanh năm lộng gió, ngoảnh mặt về hướng tây-nam. Phía trước là thung lũng mở rộng ra một khoảng lớn, con suối nhỏ hình vòng cung ôm lấy chân đồi dẫn nước xuôi về nhập với dòng suối Cam Ly.
Kiến trúc lăng đẹp, đơn giản nhưng tiềm ẩn nhiều giá trị mỹ thuật hấp dẫn, góp phần làm phong phú thêm hệ thống di tích triều Nguyễn tại Đà Lạt.
*
Cam Ly đã đi vào lòng người Đà Lạt nói riêng và du khách nói chung, ngấm vào tâm hồn của nhà thơ, nhạc sĩ, đi vào thế giới thi ca và nhạc hoạ:
“Cam Ly cảnh đẹp trong mơ
Rừng thông, thác nước, sương mờ còn say”
Để tạo thêm nét đẹp cho thác Cam Ly, đồng thời bảo vệ, tôn tạo một thắng cảnh đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia ngày 2-12-1998, chính quyền thành phố Đà Lạt đã cho khởi công xây dựng, mở rộng, cải tạo dòng chảy của suối Cam Ly vào đầu năm 2000 nhằm chống ô nhiễm môi trường và xây hồ lắng sinh học trước khi cho dòng nước đổ về thác Cam Ly. Cùng với dự án trên, Công ty Cổ phần Dịch vụ Du lịch Đà Lạt thực hiện dự án đền bù, giải toả, xây dựng các công trình kiến trúc văn hoá, lịch sử, thác nước, hồ, suối trên diện tích 40ha và trồng gần 20ha rừng thông để cải tạo thác Cam Ly thành khu du lịch sinh thái và tham quan, nhằm tạo cho du khách sự thư giãn, thoải mái khi dừng chân tại thác Cam Ly, để vẻ đẹp thơ mộng của cảnh quan mãi mãi đọng lại trong lòng du khách.
Nguồn: Thông tin du lịch Lâm Đồng - Đà Lạt 2007
*
zondag 2 augustus 2009
Nhắn tin chung
Xin bạn gởi các bài vở viết về Dalat - Baoloc
và hình ảnh mới cũ về:
baoloclamdong.blogspot.com
hoặc qua Email: Tungnguyen.dalat@yahoo.com
. Cám ơn
***
zaterdag 1 augustus 2009
Mien du - Dalat
Miên Du-Đà Lạt: Đam mê với những suy tư sáng tác, gắn bó thơ-nhạc
Trước kia Miên Du-Đà Lạt chỉ thường cống hiến trong lãnh vực thơ văn, nhưng từ mấy năm đầu thế kỷ 21, cô đột nhiên như lạc bước vào thế giới sáng tác ca nhạc: Những CD khẳng định những cống hiến bền bỉ vì nghệ thuật , đã đáp ứng giới khán thính giả ái mộ khắp nơi trên thế giới, qua các làn sóng phát thanh, truyền hình và các mạng lưới website. Sau trên 5 năm liên tục nỗ lực sinh hoạt, Miên Du-Đà Lạt đã nổi bật từ những đóng góp vượt sức người, tốn kém lẫn tâm huyết , với trên 5 chương trình CD nhạc sáng tác. Gia sản của Miên Du Đà Lạt là một số ca khúc đáng yêu…
Chúng ta đã từng nghe: “Nắng Từ Đâu Gọi Bình Minh”, “Chạm Vào Tim”, “Thu đến Chưa ?”, “ Tỉnh Thức”, “Mùa Xuân Đã Qua”, “Khi tôi Buồn Tôi Bỏ Đi”, 'Một Hôm Trốn Phố', 'Không Điểm Hẹn', qua tiếng hát Mai Hậu; “Cây Giăng Tay Chờ Ai” (Diệu Hiền), “Tự Nhiên”, 'Xin Hãy Cho Nhau Nụ Cười' (Hương Giang), “Đi Tìm Hạnh Phúc ”, “Xưa Anh Vô Tình Em Vô Tâm”, với Hương Giang & Hoàng Quân.
Và những tiếng hát trẻ khác sau này như Huy Tâm, Phạm Trọng Tuyên, qua tài phối trí xuất sắc của ca sĩ Quỳnh Lan, cô cũng đã hát rất hay ca khúc “Theo Dòng Nước Trôi”.
8 ca khúc với Mai Hậu (tên của Mai Thiên Vân trước tháng 6-2007)
Mai Hậu trở nên tiếng hát rất trẻ, mới vừa 20 tuổi, đầy triển vọng, chuyên hát nhạc Thánh ca, nhạc Thiền, được giới thiệu để hát những ca khúc mới của Miên Du Đà Lạït. Khởi đầu với 'Tỉnh Thức' (Miên Du Đà lạt hoàn tất ca khúc trong chuyến thăm viếng Seattle) thu âm năm 2005 khi Mai Hậu còn ở Việt Nam. Những ca khúc kế tiếp Mai Hậu được thu thanh là: Nắng Từ Đâu Gọi Bình Minh, Một Hôm Trốn Phố (Valse), Về Không Điểm Hẹn, Chạm Vào Tim, Mùa Xuân Đã Qua, Thu Đến Chưa?, Khi Tôi Buồn Tôi Bỏ Đi, và nổi nhất là 'Nắng Từ Đâu Gọi Bình Minh'.
Từ những ca khúc hát của Miên Du Đà Lạt, kéo dài khoảng 2 năm, Mai Hậu đã được Trung tâm Thúy Nga ưu ái chiếu cố và giành độc quyền tiếng hát này: Và Mai Hậu trở thành Mai Thiên Vân khi xuất hiện trên trang bìa báo Văn Nghệ cũng như giữ một vị trí nổi bật trên sân khấu Paris By Night…Chính Mai Thiên Vân bây giờ không thể ngờ là 3 năm về trước cô đã hát những ca khúc thanh thoát, đáng yêu như thế, với tiếng dương cầm phụ họa , tiếng đàn guitar pha chút tiếng đàn banjo hay mandoline của Nguyễn Xuân Hoàng.
Lời thơ và âm điệu khai phá nhiều nét đặc sắc
Ca khúc “Một Hôm Trốn Phố” là những vần thơ lục bát được phổ thành ca khúc theo thể điệu Valse một cách thần kỳ. Ca khúc này chứa đựng những dòng thơ liên tục mênh mang, có cấu trúc khác lạ: không điệp khúc , đã kết hợp kỳ ảo giữa dòng nhạc, lời thơ và tiếng hát diễn tả. Nhà thơ Hà Huyền Chi cũng đã đưa ra lời nhận định: “ Có lẽ hiếm có những tình khúc vận dụng kỳ diệu những dòng thơ lục bát được chuyển đạt qua âm nhạc mà hay đến như thế..”
Tương tự như vậy: Nắng Từ Đâu Gọi Bình Minh cũng chỉ là những dòng thơ lục bát, mênh mang qua tiếng hát mảnh dẻ trong sáng, đã kiểm soát được làn hơi trong trẻo, nhưng có bị ép giọng hát ở những nốt nhạc với dấu hỏi, ngã, sắc, huyền, dù vẫn mượt như tơ lụa... con gái.
Trên nguyên tắc thì nếu qua giọng nam là Tuấn Ngọc, Vũ Khanh, Bằng Kiều, và giọng nữ như là Y Phương (Asia), thì có lẽ các ca khúc này sẽ dễ được cảm nhận hơn, nhanh chóng được đón nhận, và dễ dàng đi sâu vào trái tim người nghe nhanh hơn. Thế mà những ca khúc này của Miên Du tự chúng có sức mạnh truyền đạt đến với người nghe bởi giọng hát mới, mặc dù không phải là những tiếng hát hàng đầu. Như nước chảy vào dòng trũng . Ưu điểm của Miên Du Đà Lạt ở chỗ đó.
Lời hát trong sáng thanh thoát Thiền tính
Xuất thân từ những bài hát mộc mạc trong phạm vi ca đoàn Công Giáo, từ năm 2005, Miên Du Đà Lạt đã nhuần nhuyễn bắt sang giọng hát Thiền thánh thoát. Miên Du Đà Lạt đi đến kết luận: Nếu thơ là nguồn an ủi và văn là để tả chân cuộc đời , thì những ca khúc tâm linh cho đời sống, giăng trên thân phận mình như lằn ranh của hạnh phúc lứa đôi, như tâm sự, như những cành cây giăng tay chờ ai.
Ngoài Mai Hậu (Mai Thiên Vân), những ca khúc của Miên Du Đà Lạt như Xưa Anh Vô Tình Em Vô Tâm lại qua tiếng hát Hương Giang, rất được nhạc sĩ Lam Phương khen ngợi. Hương Giang còn hát Đời Bỗng Ru Điệu Buồn, Về Đâu Chiều Nay, Xin Hãy Cho Nhau Nụ Cười (Hilltop Publishing nhận phát hành), Vết Nứt Rêu Phong (nhạc phẩm này đã được nhà thơ Vương Đức Lệ ưu ái trong suốt thời gian điều trị bệnh). Còn có Quỳnh Lan với Ngày Mưa Ngày nắng, Tôi Ngồi Hoá Đá Thành Thơ, Nửa Đêm Trăng Gõ Cửa Rèm ... tất cả những nhan đề ca khúc này đều rất mới . Mà trong đó có cả tiếng hát của Nguyệt Hân ở những ca khúc như ”Một Hôm Trốn Phố”, “Nắng Từ Đâu Gọi Bình Minh”.
Người nhạc sĩ Miên Du Đà Lạt có cha gốc quê làng Quỳnh Côi tỉnh Thái Bình nhưng lại đuợc sinh trưởng tại Phan Rang và lớn lên từ thành phố Đà Lạt. Suốt những năm tháng thanh xuân, thơ văn không là huyền thoại mà là một quá trình sống của người yêu cuộc đời , say đắm với văn chương chữ nghĩa. Qua nhiều bút hiệu, nhiều lãnh vực văn học nghệ thuật, làm thiện nguyện phục vụ xã hội, nhưng hơn hết có lẽ Miên Du-Đà Lạt vẫn như là kiếp tầm, cống hiến trọn vẹn cuộc sống trong lãnh vực sáng tác nhạc. Sau năm 1993, gặp bao nhiêu gian nan, trắc trở trong cuộc đời lưu vong, cô lại càng có những sáng tác bước qua một ngã rẽ khác la,ï độc đáo riêng. Và cô đam mê như không ngừng nghỉ: Sáng tác nhạc.
Lắng nghe một chương trình nhạc mới đây nhất ,với sự góp mặt của Mai Thiên Vân (Mai Hậu), Nguyễn Bá Thành, Huy Tâm, Hương Giang, Diệu Hiền, Quỳnh Lan, Nguyệt Hân và bằng hữu, Miên Du Đà Lạt đã mở một con đường đi riêng, tự tin vào lòng yêu mến của thính giả, của người nghe ở rải rác khắp nơi trên thế giới, mà không qua ngả đường của các trung tâm ca nhạc tên tuổi là một phong thái tự tin, đầy can đảm và tiên phong…Đấy là một chương trình nhạc sống hay một CD tuyển chọn, Miên Du-Đà Lạt như mở rộng ra một cánh cửa cho người thưởng ngoạn bước vào một khung trời tươi mới.
Như một lời kết luận: ca khúc “Cánh Cửa” lời và nhạc rất tiêu biểu mang nỗ lực sáng tác mới. Phải chi những ca khúc tương tự như thế mà hội đủ các điều kiện: như hòa âm giỏi và lời ca tuyệt, nếu lại có thêm những tiếng hát hay, qua một sân khấu lớn và đuợc giới thiệu từ một số cây viết văn nghệ phân tách đúng mức…thì Miên Du Đà Lạt xứng đáng nổi biết chừng nào./.
Liên lạc tác giả: haingoaithica04@yahoo.com ĐT: 714-895-7686.
* Phạm Kim.
*
Trước kia Miên Du-Đà Lạt chỉ thường cống hiến trong lãnh vực thơ văn, nhưng từ mấy năm đầu thế kỷ 21, cô đột nhiên như lạc bước vào thế giới sáng tác ca nhạc: Những CD khẳng định những cống hiến bền bỉ vì nghệ thuật , đã đáp ứng giới khán thính giả ái mộ khắp nơi trên thế giới, qua các làn sóng phát thanh, truyền hình và các mạng lưới website. Sau trên 5 năm liên tục nỗ lực sinh hoạt, Miên Du-Đà Lạt đã nổi bật từ những đóng góp vượt sức người, tốn kém lẫn tâm huyết , với trên 5 chương trình CD nhạc sáng tác. Gia sản của Miên Du Đà Lạt là một số ca khúc đáng yêu…
Chúng ta đã từng nghe: “Nắng Từ Đâu Gọi Bình Minh”, “Chạm Vào Tim”, “Thu đến Chưa ?”, “ Tỉnh Thức”, “Mùa Xuân Đã Qua”, “Khi tôi Buồn Tôi Bỏ Đi”, 'Một Hôm Trốn Phố', 'Không Điểm Hẹn', qua tiếng hát Mai Hậu; “Cây Giăng Tay Chờ Ai” (Diệu Hiền), “Tự Nhiên”, 'Xin Hãy Cho Nhau Nụ Cười' (Hương Giang), “Đi Tìm Hạnh Phúc ”, “Xưa Anh Vô Tình Em Vô Tâm”, với Hương Giang & Hoàng Quân.
Và những tiếng hát trẻ khác sau này như Huy Tâm, Phạm Trọng Tuyên, qua tài phối trí xuất sắc của ca sĩ Quỳnh Lan, cô cũng đã hát rất hay ca khúc “Theo Dòng Nước Trôi”.
8 ca khúc với Mai Hậu (tên của Mai Thiên Vân trước tháng 6-2007)
Mai Hậu trở nên tiếng hát rất trẻ, mới vừa 20 tuổi, đầy triển vọng, chuyên hát nhạc Thánh ca, nhạc Thiền, được giới thiệu để hát những ca khúc mới của Miên Du Đà Lạït. Khởi đầu với 'Tỉnh Thức' (Miên Du Đà lạt hoàn tất ca khúc trong chuyến thăm viếng Seattle) thu âm năm 2005 khi Mai Hậu còn ở Việt Nam. Những ca khúc kế tiếp Mai Hậu được thu thanh là: Nắng Từ Đâu Gọi Bình Minh, Một Hôm Trốn Phố (Valse), Về Không Điểm Hẹn, Chạm Vào Tim, Mùa Xuân Đã Qua, Thu Đến Chưa?, Khi Tôi Buồn Tôi Bỏ Đi, và nổi nhất là 'Nắng Từ Đâu Gọi Bình Minh'.
Từ những ca khúc hát của Miên Du Đà Lạt, kéo dài khoảng 2 năm, Mai Hậu đã được Trung tâm Thúy Nga ưu ái chiếu cố và giành độc quyền tiếng hát này: Và Mai Hậu trở thành Mai Thiên Vân khi xuất hiện trên trang bìa báo Văn Nghệ cũng như giữ một vị trí nổi bật trên sân khấu Paris By Night…Chính Mai Thiên Vân bây giờ không thể ngờ là 3 năm về trước cô đã hát những ca khúc thanh thoát, đáng yêu như thế, với tiếng dương cầm phụ họa , tiếng đàn guitar pha chút tiếng đàn banjo hay mandoline của Nguyễn Xuân Hoàng.
Lời thơ và âm điệu khai phá nhiều nét đặc sắc
Ca khúc “Một Hôm Trốn Phố” là những vần thơ lục bát được phổ thành ca khúc theo thể điệu Valse một cách thần kỳ. Ca khúc này chứa đựng những dòng thơ liên tục mênh mang, có cấu trúc khác lạ: không điệp khúc , đã kết hợp kỳ ảo giữa dòng nhạc, lời thơ và tiếng hát diễn tả. Nhà thơ Hà Huyền Chi cũng đã đưa ra lời nhận định: “ Có lẽ hiếm có những tình khúc vận dụng kỳ diệu những dòng thơ lục bát được chuyển đạt qua âm nhạc mà hay đến như thế..”
Tương tự như vậy: Nắng Từ Đâu Gọi Bình Minh cũng chỉ là những dòng thơ lục bát, mênh mang qua tiếng hát mảnh dẻ trong sáng, đã kiểm soát được làn hơi trong trẻo, nhưng có bị ép giọng hát ở những nốt nhạc với dấu hỏi, ngã, sắc, huyền, dù vẫn mượt như tơ lụa... con gái.
Trên nguyên tắc thì nếu qua giọng nam là Tuấn Ngọc, Vũ Khanh, Bằng Kiều, và giọng nữ như là Y Phương (Asia), thì có lẽ các ca khúc này sẽ dễ được cảm nhận hơn, nhanh chóng được đón nhận, và dễ dàng đi sâu vào trái tim người nghe nhanh hơn. Thế mà những ca khúc này của Miên Du tự chúng có sức mạnh truyền đạt đến với người nghe bởi giọng hát mới, mặc dù không phải là những tiếng hát hàng đầu. Như nước chảy vào dòng trũng . Ưu điểm của Miên Du Đà Lạt ở chỗ đó.
Lời hát trong sáng thanh thoát Thiền tính
Xuất thân từ những bài hát mộc mạc trong phạm vi ca đoàn Công Giáo, từ năm 2005, Miên Du Đà Lạt đã nhuần nhuyễn bắt sang giọng hát Thiền thánh thoát. Miên Du Đà Lạt đi đến kết luận: Nếu thơ là nguồn an ủi và văn là để tả chân cuộc đời , thì những ca khúc tâm linh cho đời sống, giăng trên thân phận mình như lằn ranh của hạnh phúc lứa đôi, như tâm sự, như những cành cây giăng tay chờ ai.
Ngoài Mai Hậu (Mai Thiên Vân), những ca khúc của Miên Du Đà Lạt như Xưa Anh Vô Tình Em Vô Tâm lại qua tiếng hát Hương Giang, rất được nhạc sĩ Lam Phương khen ngợi. Hương Giang còn hát Đời Bỗng Ru Điệu Buồn, Về Đâu Chiều Nay, Xin Hãy Cho Nhau Nụ Cười (Hilltop Publishing nhận phát hành), Vết Nứt Rêu Phong (nhạc phẩm này đã được nhà thơ Vương Đức Lệ ưu ái trong suốt thời gian điều trị bệnh). Còn có Quỳnh Lan với Ngày Mưa Ngày nắng, Tôi Ngồi Hoá Đá Thành Thơ, Nửa Đêm Trăng Gõ Cửa Rèm ... tất cả những nhan đề ca khúc này đều rất mới . Mà trong đó có cả tiếng hát của Nguyệt Hân ở những ca khúc như ”Một Hôm Trốn Phố”, “Nắng Từ Đâu Gọi Bình Minh”.
Người nhạc sĩ Miên Du Đà Lạt có cha gốc quê làng Quỳnh Côi tỉnh Thái Bình nhưng lại đuợc sinh trưởng tại Phan Rang và lớn lên từ thành phố Đà Lạt. Suốt những năm tháng thanh xuân, thơ văn không là huyền thoại mà là một quá trình sống của người yêu cuộc đời , say đắm với văn chương chữ nghĩa. Qua nhiều bút hiệu, nhiều lãnh vực văn học nghệ thuật, làm thiện nguyện phục vụ xã hội, nhưng hơn hết có lẽ Miên Du-Đà Lạt vẫn như là kiếp tầm, cống hiến trọn vẹn cuộc sống trong lãnh vực sáng tác nhạc. Sau năm 1993, gặp bao nhiêu gian nan, trắc trở trong cuộc đời lưu vong, cô lại càng có những sáng tác bước qua một ngã rẽ khác la,ï độc đáo riêng. Và cô đam mê như không ngừng nghỉ: Sáng tác nhạc.
Lắng nghe một chương trình nhạc mới đây nhất ,với sự góp mặt của Mai Thiên Vân (Mai Hậu), Nguyễn Bá Thành, Huy Tâm, Hương Giang, Diệu Hiền, Quỳnh Lan, Nguyệt Hân và bằng hữu, Miên Du Đà Lạt đã mở một con đường đi riêng, tự tin vào lòng yêu mến của thính giả, của người nghe ở rải rác khắp nơi trên thế giới, mà không qua ngả đường của các trung tâm ca nhạc tên tuổi là một phong thái tự tin, đầy can đảm và tiên phong…Đấy là một chương trình nhạc sống hay một CD tuyển chọn, Miên Du-Đà Lạt như mở rộng ra một cánh cửa cho người thưởng ngoạn bước vào một khung trời tươi mới.
Như một lời kết luận: ca khúc “Cánh Cửa” lời và nhạc rất tiêu biểu mang nỗ lực sáng tác mới. Phải chi những ca khúc tương tự như thế mà hội đủ các điều kiện: như hòa âm giỏi và lời ca tuyệt, nếu lại có thêm những tiếng hát hay, qua một sân khấu lớn và đuợc giới thiệu từ một số cây viết văn nghệ phân tách đúng mức…thì Miên Du Đà Lạt xứng đáng nổi biết chừng nào./.
Liên lạc tác giả: haingoaithica04@yahoo.com ĐT: 714-895-7686.
* Phạm Kim.
*
Dalat - International School
About Us ... History of DIS
Dalat School was founded in 1929 as a private Christian boarding school to provide a North American elementary and high school education for children of C&MA missionaries in Indo-China. Because of war conditions in 1965, the school moved from its original location in Dalat, Vietnam, to a temporary location in Bangkok, Thailand.
Eight months later, the school relocated to the Cameron Highlands of Malaysia where it remained for six years. In June 1971, Dalat moved to its present location in Penang, Malaysia where it became established as Dalat International School in 2002.
It is a pleasure for me to reflect on God's faithfulness to Dalat School. Ask any teacher what makes Dalat special and they will say it is the students. Ask any student what makes Dalat special and they will say it is the friends that they make and the fun they have with them. Ask any parent what makes Dalat special and they will say it provides a quality education in a safe environment. Positive togetherness, moments of camaraderie and satisfying relationships are the hallmarks of a Dalat education.
Dalat, Vietnam
It all began 68 years ago in the central highlands of Vietnam. The campus, known as Villa Alliance, had been purchased in 1928 with the idea that a school be developed for the children of missionaries whose parents served in Indochina. In 1929 three students and one teacher held classes in a rented h ouse while a large two-story home and servants' quarters were constructed.
From 1929 until 1949, the student body remained small. Auntie and Uncle Jackson served as dorm parents for 20 years. During World War II, the French Vichy government placed the missionaries and students under house arrest for three months. Later in 1943, they were transferred to a Japanese internment camp in My Tho, a city south of Saigon. Franklin Irwin, a high school student at that time, said classes never stopped. His teacher taught him in the morning, and he taught the younger children in the afternoon. After the war, the school returned to the Villa in Dalat. During the 50s, Vietnam had a lot of political changes. The French were defeated and the country was divided at the 17th parallel. Dalat School, however, kept growing as new missionaries were appointed and high school students from other countries in Southeast Asia arrived at Dalat to study. In the early 60s, we had several U.S. military families living in Dalat and their children attending as day students. We were fast outgrowing our facilities, so a gym, a new boys' dormitory, and several classrooms were built to accommodate the growth.
With the escalation of the Vietnam war, missionaries who worked in neighboring countries questioned the wisdom of sending their children to Dalat. Was it safe? Then on Friday afternoon, April 16, 1965, The US. Embassy in Saigon notified us that they could no longer guarantee our safety. We would have 48 hours to pack up. It was Easter weekend. The choir sang their cantata as planned on Sunday morning, but the rest of the time was spent sorting, packing, and crating. Of course everything couldn't be taken. The librarian was allowed to choose 100 books. All file cabinets had slat crates build around them. The children's bicycles and pets were left behind. Four C-123 U.S. military planes transported the entire student body with its 11 tons of belongings to Bangkok, Thailand.
Bangkok, Thailand
"It was the worst of times" is how most people would describe our eight-month stay in Bangkok. The American Club was not built to be a school. Triple-deck beds made it possible to put 8 students in one room. That worked until the electricity went off, and there were no fans or air-conditioning. It never did work for 50 boys to have only 3 bathrooms. The teachers and students would often face flooded classrooms. The children were more interested in catching frogs than in doing schoolwork. The newly hired Thai cooks had no experience in cooking for Americans.
When doughnuts were served, too tough to eat, the students soon learned that they bounced and made excellent balls. Memories of Bep, their Vietnamese cook back in Dalat, came flashing back. He could prepare French, Vietnamese, and American cuisine fit for a king to eat.
Cameron Highlands, Malaysia
Six months later when administrators announced they had found a better place, it was easy to believe and accept. This time it was to be the Cameron Highlands of Malaysia. Tanah Rata, a sleepy little town in those days, had much in common with Dalat, Vietnam--cool weather, a rainy season, waterfalls, mountains to climb and trails to explore. The Eastern Hotel , in comparison with the American Club in Bangkok, looked like paradise, but it was not Dalat. To begin with, both students and staff lived in hotel rooms. Everyone ate all of their meals in the hotel-catered dining room. It was hard on families. New teaching couples who arrived in the summer of 1966 with several pre-school children were given two second-floor hotel rooms in which to live.
We held classes in hallways and tin-roofed quonset huts. When it rained you couldn't hear, much less think. Gradually small chalets were built to be used as classrooms and housing. We settled in and almost overwhelmed the little town. They were use to the British, but not Americans. Mr. Shee at Excell store did everything possible to accommodate us. His response to every request we made was "Can do, will order, two weeks, Madam."
The students loved climbing the mountains, catching butterflies, exploring the trails and swimming at the waterfalls. We had lots of cookouts and picnics. When Jim Thompson, the Thai silk tycoon, mysteriously disappeared, never to be heard from again, our high school boys got the day off from school to go hunting for him in the jungle. When President Johnson came to Kuala Lumpur for a visit, the US embassy invited our entire school to be on hand to greet him.
On one occasion, we all stopped at the police station to see the tiger that had been shot and brought in from the jungle. We made national and international news when one of our teachers, taking a wrong turn on a mountain jungle path, was lost for three days and three nights in the jungle. We loved the Highlands, but there were some drawbacks. The British military was withdrawing, and they were closing their hospital which previously was available to us in case of emergency. Those in need of a dentist or orthodontist had to make a two and one-half hour taxi ride to Ipoh. The school had grown to 180 students. Our compound seemed to shrink. The director, principal and business manager made trips to Singapore, Kuala Lumpur and Penang, searching for a better place. The withdrawal of the British military meant they would no longer need Sandycroft, here in Penang, as a rest and relaxation center. In February of 1971 we inquired about Sandycroft, but it was difficult to get any definite word. The timing wasn't right. We were told that we might have a three-percent chance of leasing it as others were interested.
Penang, Malaysia
Unknown to us at the time, a professor at the Baptist Seminary here in Penang had a special interest in Dalat. He had a daughter who wanted to attend. If Dalat moved to Penang that would be possible. On his way to work he would pull off to the side of the road in front of Sandycroft and pray that Dalat might obtain the lease. On April 19, 1971, six years to the day, from the date of our move from Dalat, Vietnam, to Bangkok, Thailand, our director and business manager made a trip to Kuala Lumpur and negotiated the lease for Sandycroft.
It was exciting news for nearly everyone, even though many people were sad to leave the Highlands. For some staff it was the third move in six years and they were not looking forward to it. On a long weekend in May before the school year ended, two van loads of staff and students headed for Penang to assess what had to be done in order to get Sandycroft ready for school in August. Mr. Baxter, the science teacher at that time, along with two senior boys, began gutting the building that would become the science lab. The building was full of shower stalls and toilets, complete with all of the plumbing. Muthu, Kumar and Rajin's father, had removed the plumbing fixtures and pipes. Then the two senior guys and their science teacher donned safety glasses and with sledge hammers smashed to smithereens brick, cement and tile, demolishing all of the stalls and cubicles. They returned to the Highlands covered with cuts and scratches but Mr. Baxter was overjoyed that he would now have a science lab and classroom of his own design. In Tanah Rata his science lab was an eight-foot-wide hallway.
In late June thirty-seven truck loads of school supplies, furniture and personal effects were loaded in Tanah Rata and unloaded in Penang, all within one week's time. The transformation of the British rest and relaxation center into a school took a lot of work. By the end of the summer the staff was exhausted. We as teachers were not used to physical labor and we were not used to the humidity and heat. I never wanted to see another paint brush or can of paint. On August 31, 1971, we had 214 students enrolled with one-fourth of them coming in as day students. Penang had so much to offer us. The beaches were beautiful. We were no longer an isolated school. Our boarding students could land at the Bayan Lepas airport and shortly thereafter be on campus instead of facing an eight-hour bus ride. Our coaches and athletes liked the MSSPP inter-school sports program. The choir and drama club had new opportunities to perform. We could attend concerts and drama productions sponsored by the Penang Arts Council and the British Council. The people of Penang welcomed us with open arms. It was a shopper's paradise. Jimmy, a young Chinese man who worked for the KK grocery store would pick up our individual shopping lists each morning and deliver the goods later in the day.
In those early days the student canteen, a little shack-like building, about 12 by 12 feet, situated right on the corner of where we presently have our student center, was the best kept and painted building on campus. Every year a high school class would claim a new side of the building, then paint an original design as well as large numbers indicating their year of graduation.
In those early years the seawall demanded constant repair. Truck load after truck load of rocks were brought in. Our high school boys spent many a Saturday carrying rocks to fill the huge black holes that would suddenly develop under the smooth cement facade. They worked two hour shifts and coordinated their work hours with the low tides, some getting up at 5 and 6 AM to make sure the cement got poured and somewhat dry before the tides came in. In the last 10 years we have added some major buildings. First it was the student center and then the gym. Thanks to fund raising by the PTF, the swimming pool became a reality in 1995. Retired British military personnel often stop by to reminisce about how things used to be. The empty skyline of 25 years ago is now filled with hotels and highrises. The old Bamboo Bar and the horse stables are long gone.
Penang and Sandycroft have changed but Dalat School remains much the same. Our students still think the most important part of school is their friends and social life; the parents still think Dalat is a safe place providing a quality education and we teachers still think that our students are the greatest and best. And Dalat International School continues to educate both missionary kids and day students.
God's faithfulness to us over the years is obvious: four locations in three different countries covering 75 years. To God be the glory; great things He has done.
*
Dalat School was founded in 1929 as a private Christian boarding school to provide a North American elementary and high school education for children of C&MA missionaries in Indo-China. Because of war conditions in 1965, the school moved from its original location in Dalat, Vietnam, to a temporary location in Bangkok, Thailand.
Eight months later, the school relocated to the Cameron Highlands of Malaysia where it remained for six years. In June 1971, Dalat moved to its present location in Penang, Malaysia where it became established as Dalat International School in 2002.
It is a pleasure for me to reflect on God's faithfulness to Dalat School. Ask any teacher what makes Dalat special and they will say it is the students. Ask any student what makes Dalat special and they will say it is the friends that they make and the fun they have with them. Ask any parent what makes Dalat special and they will say it provides a quality education in a safe environment. Positive togetherness, moments of camaraderie and satisfying relationships are the hallmarks of a Dalat education.
Dalat, Vietnam
It all began 68 years ago in the central highlands of Vietnam. The campus, known as Villa Alliance, had been purchased in 1928 with the idea that a school be developed for the children of missionaries whose parents served in Indochina. In 1929 three students and one teacher held classes in a rented h ouse while a large two-story home and servants' quarters were constructed.
From 1929 until 1949, the student body remained small. Auntie and Uncle Jackson served as dorm parents for 20 years. During World War II, the French Vichy government placed the missionaries and students under house arrest for three months. Later in 1943, they were transferred to a Japanese internment camp in My Tho, a city south of Saigon. Franklin Irwin, a high school student at that time, said classes never stopped. His teacher taught him in the morning, and he taught the younger children in the afternoon. After the war, the school returned to the Villa in Dalat. During the 50s, Vietnam had a lot of political changes. The French were defeated and the country was divided at the 17th parallel. Dalat School, however, kept growing as new missionaries were appointed and high school students from other countries in Southeast Asia arrived at Dalat to study. In the early 60s, we had several U.S. military families living in Dalat and their children attending as day students. We were fast outgrowing our facilities, so a gym, a new boys' dormitory, and several classrooms were built to accommodate the growth.
With the escalation of the Vietnam war, missionaries who worked in neighboring countries questioned the wisdom of sending their children to Dalat. Was it safe? Then on Friday afternoon, April 16, 1965, The US. Embassy in Saigon notified us that they could no longer guarantee our safety. We would have 48 hours to pack up. It was Easter weekend. The choir sang their cantata as planned on Sunday morning, but the rest of the time was spent sorting, packing, and crating. Of course everything couldn't be taken. The librarian was allowed to choose 100 books. All file cabinets had slat crates build around them. The children's bicycles and pets were left behind. Four C-123 U.S. military planes transported the entire student body with its 11 tons of belongings to Bangkok, Thailand.
Bangkok, Thailand
"It was the worst of times" is how most people would describe our eight-month stay in Bangkok. The American Club was not built to be a school. Triple-deck beds made it possible to put 8 students in one room. That worked until the electricity went off, and there were no fans or air-conditioning. It never did work for 50 boys to have only 3 bathrooms. The teachers and students would often face flooded classrooms. The children were more interested in catching frogs than in doing schoolwork. The newly hired Thai cooks had no experience in cooking for Americans.
When doughnuts were served, too tough to eat, the students soon learned that they bounced and made excellent balls. Memories of Bep, their Vietnamese cook back in Dalat, came flashing back. He could prepare French, Vietnamese, and American cuisine fit for a king to eat.
Cameron Highlands, Malaysia
Six months later when administrators announced they had found a better place, it was easy to believe and accept. This time it was to be the Cameron Highlands of Malaysia. Tanah Rata, a sleepy little town in those days, had much in common with Dalat, Vietnam--cool weather, a rainy season, waterfalls, mountains to climb and trails to explore. The Eastern Hotel , in comparison with the American Club in Bangkok, looked like paradise, but it was not Dalat. To begin with, both students and staff lived in hotel rooms. Everyone ate all of their meals in the hotel-catered dining room. It was hard on families. New teaching couples who arrived in the summer of 1966 with several pre-school children were given two second-floor hotel rooms in which to live.
We held classes in hallways and tin-roofed quonset huts. When it rained you couldn't hear, much less think. Gradually small chalets were built to be used as classrooms and housing. We settled in and almost overwhelmed the little town. They were use to the British, but not Americans. Mr. Shee at Excell store did everything possible to accommodate us. His response to every request we made was "Can do, will order, two weeks, Madam."
The students loved climbing the mountains, catching butterflies, exploring the trails and swimming at the waterfalls. We had lots of cookouts and picnics. When Jim Thompson, the Thai silk tycoon, mysteriously disappeared, never to be heard from again, our high school boys got the day off from school to go hunting for him in the jungle. When President Johnson came to Kuala Lumpur for a visit, the US embassy invited our entire school to be on hand to greet him.
On one occasion, we all stopped at the police station to see the tiger that had been shot and brought in from the jungle. We made national and international news when one of our teachers, taking a wrong turn on a mountain jungle path, was lost for three days and three nights in the jungle. We loved the Highlands, but there were some drawbacks. The British military was withdrawing, and they were closing their hospital which previously was available to us in case of emergency. Those in need of a dentist or orthodontist had to make a two and one-half hour taxi ride to Ipoh. The school had grown to 180 students. Our compound seemed to shrink. The director, principal and business manager made trips to Singapore, Kuala Lumpur and Penang, searching for a better place. The withdrawal of the British military meant they would no longer need Sandycroft, here in Penang, as a rest and relaxation center. In February of 1971 we inquired about Sandycroft, but it was difficult to get any definite word. The timing wasn't right. We were told that we might have a three-percent chance of leasing it as others were interested.
Penang, Malaysia
Unknown to us at the time, a professor at the Baptist Seminary here in Penang had a special interest in Dalat. He had a daughter who wanted to attend. If Dalat moved to Penang that would be possible. On his way to work he would pull off to the side of the road in front of Sandycroft and pray that Dalat might obtain the lease. On April 19, 1971, six years to the day, from the date of our move from Dalat, Vietnam, to Bangkok, Thailand, our director and business manager made a trip to Kuala Lumpur and negotiated the lease for Sandycroft.
It was exciting news for nearly everyone, even though many people were sad to leave the Highlands. For some staff it was the third move in six years and they were not looking forward to it. On a long weekend in May before the school year ended, two van loads of staff and students headed for Penang to assess what had to be done in order to get Sandycroft ready for school in August. Mr. Baxter, the science teacher at that time, along with two senior boys, began gutting the building that would become the science lab. The building was full of shower stalls and toilets, complete with all of the plumbing. Muthu, Kumar and Rajin's father, had removed the plumbing fixtures and pipes. Then the two senior guys and their science teacher donned safety glasses and with sledge hammers smashed to smithereens brick, cement and tile, demolishing all of the stalls and cubicles. They returned to the Highlands covered with cuts and scratches but Mr. Baxter was overjoyed that he would now have a science lab and classroom of his own design. In Tanah Rata his science lab was an eight-foot-wide hallway.
In late June thirty-seven truck loads of school supplies, furniture and personal effects were loaded in Tanah Rata and unloaded in Penang, all within one week's time. The transformation of the British rest and relaxation center into a school took a lot of work. By the end of the summer the staff was exhausted. We as teachers were not used to physical labor and we were not used to the humidity and heat. I never wanted to see another paint brush or can of paint. On August 31, 1971, we had 214 students enrolled with one-fourth of them coming in as day students. Penang had so much to offer us. The beaches were beautiful. We were no longer an isolated school. Our boarding students could land at the Bayan Lepas airport and shortly thereafter be on campus instead of facing an eight-hour bus ride. Our coaches and athletes liked the MSSPP inter-school sports program. The choir and drama club had new opportunities to perform. We could attend concerts and drama productions sponsored by the Penang Arts Council and the British Council. The people of Penang welcomed us with open arms. It was a shopper's paradise. Jimmy, a young Chinese man who worked for the KK grocery store would pick up our individual shopping lists each morning and deliver the goods later in the day.
In those early days the student canteen, a little shack-like building, about 12 by 12 feet, situated right on the corner of where we presently have our student center, was the best kept and painted building on campus. Every year a high school class would claim a new side of the building, then paint an original design as well as large numbers indicating their year of graduation.
In those early years the seawall demanded constant repair. Truck load after truck load of rocks were brought in. Our high school boys spent many a Saturday carrying rocks to fill the huge black holes that would suddenly develop under the smooth cement facade. They worked two hour shifts and coordinated their work hours with the low tides, some getting up at 5 and 6 AM to make sure the cement got poured and somewhat dry before the tides came in. In the last 10 years we have added some major buildings. First it was the student center and then the gym. Thanks to fund raising by the PTF, the swimming pool became a reality in 1995. Retired British military personnel often stop by to reminisce about how things used to be. The empty skyline of 25 years ago is now filled with hotels and highrises. The old Bamboo Bar and the horse stables are long gone.
Penang and Sandycroft have changed but Dalat School remains much the same. Our students still think the most important part of school is their friends and social life; the parents still think Dalat is a safe place providing a quality education and we teachers still think that our students are the greatest and best. And Dalat International School continues to educate both missionary kids and day students.
God's faithfulness to us over the years is obvious: four locations in three different countries covering 75 years. To God be the glory; great things He has done.
*
Dalat xứ Hoa Anh đào
Dalat Xứ Hoa Đào
Đan Vy
Từ xưa, ngoài tên gọi Thành phố Ngàn thông, Ngàn hoa, Đà Lạt còn được gọi là Thành phố Mai anh đào hay Xứ hoa đào. Tuy nhiên cũng đã từ lâu Đà Lạt không còn xứng với tên gọi đó nữa.
Một thời gian dài, cây mai anh đào hầu như vắng bóng trên thành phố này. Chỉ còn sót lại một vài cội mai già đây đó còm cõi không đủ sức nở hoa. Thật buồn cho những người còn mơ mộng khi cất lên tiếng hát “Ai lên xứ hoa đào” quyến rũ một thời. Mấy gốc mai già bên đường nếu còn cố ra một vài cành để đơm nụ cũng bị người nào đó còn yêu hoa đào, chặt mang về nhà cho riêng mình.
Không ai cần giữ gìn một vẻ đẹp tưởng đã sắp đi vào quên lãng.
Hình như từ năm 1993, lúc Đà Lạt tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày bác sĩ Yersin phát hiện ra Đà Lạt, bắt đầu đặt lại tên đường và dựng tượng Yersin, người ta mới nghĩ đến chuyện gầy dựng lại xứ hoa đào. Tuy nhiên công việc này không mấy kết quả. Hàng năm, người ta đều tổ chức trồng cây, trong đó có mai anh đào, nhưng nếu không “trồng cây nào chết cây ấy” thì cũng chỉ sót lại vài cây còi cọc. Mà mai anh đào không phải là giống khó trồng. Đặc biệt đất của Đà Lạt rất phù hợp với giống cây này. Cứ đi vào các thung lũng ngay trong thành phố, các nhà vườn, ta sẽ thấy lũ chim đã làm việc này dễ dàng như thế nào. Khi mai anh đào kết trái, những trái mọng chín nho nhỏ tím thẫm, lũ chim tha đi khắp nơi, hạt rơi đến đâu mọc đến đó. Ấy thế mà bao nhiêu công sức tiền bạc đổ ra, mai anh đào được trồng trong những lễ lạc rùm beng vẫn không sống nổi, kể cả những cây cổ thụ người ta mua ở các vườn bứng mang về.
Nhưng rồi tín hiệu vui đã đến. Mấy năm gần đây, có thể do một cơ chế làm ăn mới nào đó, mai anh đào được khôi phục, chăm bón, trồng mới trên một số con đường bắt đầu có kết quả và mọi người đã có thể từ từ thấy lại mầu hoa ngày cũ mỗi độ đông tàn.
Đến cuối đông đầu xuân năm nay, Kỷ Sửu 2009, nhất là từ một tuần sau Tết Nguyên đán cho đến Nguyên tiêu (rằm tháng giêng), như một phép lạ, thành phố bỗng rực lên một mầu hồng như những ngọn lửa bập bùng êm dịu từ muôn vạn cánh hoa bé nhỏ. Hầu như ai cũng muốn reo lên “Mai anh đào nở hoa!”. Và mặc nhiên Đà Lạt lấy lại được mỹ danh ngày nào.
Đầu tiên, ẩn dấu dưới tàng thông đầu dốc Đinh Tiên Hoàng (gần Nhà Máy Nước cũ, con đường vòng phía bắc đồi Cù), một cội mai già cành tỏa rộng nở suốt từ gốc đến ngọn. Đây là một cây lão mai rất đẹp nhưng ít được chú ý vì khuất sau hàng thông và nép mình bên hồ nước, như một mỹ nhân phố núi một thời vang bóng lặng lẽ trở về chốn cũ.
Rồi dễ dàng nhận thấy khi các cây mai non từ từ mở những cánh hoa bé nhỏ e ấp dọc các đường 3 Tháng 4 (từ đèo Prenn dẫn vào thành phố), Yersin, Quang Trung… nhất là con đường vòng chung quanh hồ Xuân Hương, mỗi ngày mỗi thêm nồng nàn rực rỡ.
Nhìn qua những đám mây hồng dịu dàng này, thành phố bỗng dưng đổi khác. Khu Hòa Bình nhà bê tông san sát khô cứng chẳng khác gì mấy góc phố Sài Gòn sáng tươi lên cùng sắc hoa. Rặng thông và bãi cỏ đồi Cù im lắng trong vòng rào thẫm màu dưới trời chiều bớt vẻ âm u. Nhà hàng Thủy Tạ mảnh mai trắng thanh khiết bên hồ, và cả nhà hàng Thanh Thủy màu tím không mấy phù hợp với khung cảnh chung, cũng trở nên duyên dáng hơn. Tháp chuông xa xa in hình lên nền trời của trường Yersin cũ (nay là trường Cao Đẳng Sư Phạm), công trình xây dựng vốn nổi tiếng đẹp nhất Đông Nam Á càng thêm quyến rũ. Phải chăng là do “mầu hoa đào như môi hồng người mình yêu” trong lời bài hát cũ?.
Hoa mai anh đào không giống hoa đào Đà Lạt (còn gọi là đào lông, ra ít hoa và kết trái lớn), cũng không thẫm mầu nghiêng sang sắc đỏ như đào Nhật Tân - Hà Nội, cũng không giống anh đào Nhật Bản. Mai anh đào thân mảnh dẻ nhưng lâu năm có thể trở thành những cây cổ thụ cao lớn, tỏa tàn rộng, hoa nhỏ mầu hồng phớt tím, khi mới nở như những ngọn lửa nhỏ bập bùng, vài ngày sau đến độ mãn khai, toàn cây rực lên như một đám lửa hồng.
Từ dưới nhìn lên dốc Hòa Bình, bên phải là một hàng mai non dịu dàng đón khách, bên trái, trên sườn cỏ nghiêng, phía đầu dãy quán café phố núi, một cây mai không lớn nhưng đầy đặn, vững chải, đơn độc và như có chút kiêu kỳ, rạo rực liếc nhìn xuống nhân gian vội vã ngược xuôi trên đường.
Ba bốn cây mai còn thơ như mấy thiếu nữ nhí nhảnh đứng chụm vào nhau trò chuyện bên con đường dốc uốn lượn từ hồ lên nhà thờ Con Gà làm ai đi qua cũng ngoái nhìn lưu luyến.
Nhưng nơi hội tụ của những ngọn lửa hồng phớt tím làm cho người ta choáng váng chính là công viên Xuân Hương, trước khách sạn Palace, nhìn ra hồ. Công viên này mới được chỉnh trang vài năm nay, có cửa hàng của các hãng trà và mấy quán café giải khát bắt đầu đông khách. Sắc hoa mai anh đào làm sáng lên cánh rừng thông giữa phố, reo vui cùng tiếng nhạc vọng ra từ quán café, thắp hồng một cung đường, điểm sắc làm đẹp thêm mảnh trời xanh trên cao. Đặc biệt hai cây mai cổ thụ cuối công viên phía cầu Ông Đạo, cao ngất trời, đẹp ngất trời làm người yêu hoa sửng sốt.
Trên quãng đường này, không ai đi qua không dừng lại hay ngước mắt chiêm ngưỡng, không du khách nào có máy ảnh chịu bỏ qua cảnh sắc tuyệt vời hiếm hoi mà chỉ một hai tuần sẽ tàn phai, không còn lưu vết.
Có một con đường mới được đặt tên là Mai anh đào nhưng chẳng thấy cây đào nào cả. Đó là con đường khá dài chạy vòng từ Thung lũng Tình Yêu về phía Viện Nghiên cứu hạt nhân. Hai bên đường này là khu vực trồng rau, hoa, lúc nào cũng bốc mùi phân bón, thuốc trừ sâu nồng nặc. Loại sáng kiến nào đây thật trái cựa? Sao không đặt tên cho con đường cửa ngõ vào thành phố, nơi hoa đào đã được trồng khá nhiều, cứ gì lại phải lấy tên một ngày tháng mà nhiều người chẳng biết đó là ngày gì.
Có một nơi trồng hoa đào tập trung rất đẹp nhưng người ta lại không làm. Đó là công viên ngay phía dưới cầu Ông Đạo, nơi mới giải tỏa một phần của ấp Ánh Sáng, xây dựng khá công phu, trồng đủ thứ loại cây, có cầu, có ghế đá nhưng không mấy người đến vì trũng thấp và lối vào không thuận lợi. Nếu tất cả công viên này được trồng mai anh đào, chắc chắn Đà Lạt sẽ có một thung lũng hoa đào như mơ hớp hồn người nằm ngay giữa trung tâm thành phố. Dễ gì có thành phố nào được mang tên Xứ Hoa Đào. Chắc chắn đây sẽ là một thương hiệu du lịch, một tên gọi đầy quyến rũ đối với du khách bốn phương, nhất là đến mùa hoa rực rỡ như năm nay.
Mai anh đào. Chỉ một hai tuần thôi. Loài hoa nào mà chẳng chóng tàn nhưng vẻ đẹp của sắc hương trời đất vẫn còn đó, trong tâm tưởng, trong hoài niệm, trong sự thánh thiện của thiên nhiên và hồn người làm cho thế giới này bớt u ám và buồn đau.
Đan Vy
*
Đan Vy
Từ xưa, ngoài tên gọi Thành phố Ngàn thông, Ngàn hoa, Đà Lạt còn được gọi là Thành phố Mai anh đào hay Xứ hoa đào. Tuy nhiên cũng đã từ lâu Đà Lạt không còn xứng với tên gọi đó nữa.
Một thời gian dài, cây mai anh đào hầu như vắng bóng trên thành phố này. Chỉ còn sót lại một vài cội mai già đây đó còm cõi không đủ sức nở hoa. Thật buồn cho những người còn mơ mộng khi cất lên tiếng hát “Ai lên xứ hoa đào” quyến rũ một thời. Mấy gốc mai già bên đường nếu còn cố ra một vài cành để đơm nụ cũng bị người nào đó còn yêu hoa đào, chặt mang về nhà cho riêng mình.
Không ai cần giữ gìn một vẻ đẹp tưởng đã sắp đi vào quên lãng.
Hình như từ năm 1993, lúc Đà Lạt tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày bác sĩ Yersin phát hiện ra Đà Lạt, bắt đầu đặt lại tên đường và dựng tượng Yersin, người ta mới nghĩ đến chuyện gầy dựng lại xứ hoa đào. Tuy nhiên công việc này không mấy kết quả. Hàng năm, người ta đều tổ chức trồng cây, trong đó có mai anh đào, nhưng nếu không “trồng cây nào chết cây ấy” thì cũng chỉ sót lại vài cây còi cọc. Mà mai anh đào không phải là giống khó trồng. Đặc biệt đất của Đà Lạt rất phù hợp với giống cây này. Cứ đi vào các thung lũng ngay trong thành phố, các nhà vườn, ta sẽ thấy lũ chim đã làm việc này dễ dàng như thế nào. Khi mai anh đào kết trái, những trái mọng chín nho nhỏ tím thẫm, lũ chim tha đi khắp nơi, hạt rơi đến đâu mọc đến đó. Ấy thế mà bao nhiêu công sức tiền bạc đổ ra, mai anh đào được trồng trong những lễ lạc rùm beng vẫn không sống nổi, kể cả những cây cổ thụ người ta mua ở các vườn bứng mang về.
Nhưng rồi tín hiệu vui đã đến. Mấy năm gần đây, có thể do một cơ chế làm ăn mới nào đó, mai anh đào được khôi phục, chăm bón, trồng mới trên một số con đường bắt đầu có kết quả và mọi người đã có thể từ từ thấy lại mầu hoa ngày cũ mỗi độ đông tàn.
Đến cuối đông đầu xuân năm nay, Kỷ Sửu 2009, nhất là từ một tuần sau Tết Nguyên đán cho đến Nguyên tiêu (rằm tháng giêng), như một phép lạ, thành phố bỗng rực lên một mầu hồng như những ngọn lửa bập bùng êm dịu từ muôn vạn cánh hoa bé nhỏ. Hầu như ai cũng muốn reo lên “Mai anh đào nở hoa!”. Và mặc nhiên Đà Lạt lấy lại được mỹ danh ngày nào.
Đầu tiên, ẩn dấu dưới tàng thông đầu dốc Đinh Tiên Hoàng (gần Nhà Máy Nước cũ, con đường vòng phía bắc đồi Cù), một cội mai già cành tỏa rộng nở suốt từ gốc đến ngọn. Đây là một cây lão mai rất đẹp nhưng ít được chú ý vì khuất sau hàng thông và nép mình bên hồ nước, như một mỹ nhân phố núi một thời vang bóng lặng lẽ trở về chốn cũ.
Rồi dễ dàng nhận thấy khi các cây mai non từ từ mở những cánh hoa bé nhỏ e ấp dọc các đường 3 Tháng 4 (từ đèo Prenn dẫn vào thành phố), Yersin, Quang Trung… nhất là con đường vòng chung quanh hồ Xuân Hương, mỗi ngày mỗi thêm nồng nàn rực rỡ.
Nhìn qua những đám mây hồng dịu dàng này, thành phố bỗng dưng đổi khác. Khu Hòa Bình nhà bê tông san sát khô cứng chẳng khác gì mấy góc phố Sài Gòn sáng tươi lên cùng sắc hoa. Rặng thông và bãi cỏ đồi Cù im lắng trong vòng rào thẫm màu dưới trời chiều bớt vẻ âm u. Nhà hàng Thủy Tạ mảnh mai trắng thanh khiết bên hồ, và cả nhà hàng Thanh Thủy màu tím không mấy phù hợp với khung cảnh chung, cũng trở nên duyên dáng hơn. Tháp chuông xa xa in hình lên nền trời của trường Yersin cũ (nay là trường Cao Đẳng Sư Phạm), công trình xây dựng vốn nổi tiếng đẹp nhất Đông Nam Á càng thêm quyến rũ. Phải chăng là do “mầu hoa đào như môi hồng người mình yêu” trong lời bài hát cũ?.
Hoa mai anh đào không giống hoa đào Đà Lạt (còn gọi là đào lông, ra ít hoa và kết trái lớn), cũng không thẫm mầu nghiêng sang sắc đỏ như đào Nhật Tân - Hà Nội, cũng không giống anh đào Nhật Bản. Mai anh đào thân mảnh dẻ nhưng lâu năm có thể trở thành những cây cổ thụ cao lớn, tỏa tàn rộng, hoa nhỏ mầu hồng phớt tím, khi mới nở như những ngọn lửa nhỏ bập bùng, vài ngày sau đến độ mãn khai, toàn cây rực lên như một đám lửa hồng.
Từ dưới nhìn lên dốc Hòa Bình, bên phải là một hàng mai non dịu dàng đón khách, bên trái, trên sườn cỏ nghiêng, phía đầu dãy quán café phố núi, một cây mai không lớn nhưng đầy đặn, vững chải, đơn độc và như có chút kiêu kỳ, rạo rực liếc nhìn xuống nhân gian vội vã ngược xuôi trên đường.
Ba bốn cây mai còn thơ như mấy thiếu nữ nhí nhảnh đứng chụm vào nhau trò chuyện bên con đường dốc uốn lượn từ hồ lên nhà thờ Con Gà làm ai đi qua cũng ngoái nhìn lưu luyến.
Nhưng nơi hội tụ của những ngọn lửa hồng phớt tím làm cho người ta choáng váng chính là công viên Xuân Hương, trước khách sạn Palace, nhìn ra hồ. Công viên này mới được chỉnh trang vài năm nay, có cửa hàng của các hãng trà và mấy quán café giải khát bắt đầu đông khách. Sắc hoa mai anh đào làm sáng lên cánh rừng thông giữa phố, reo vui cùng tiếng nhạc vọng ra từ quán café, thắp hồng một cung đường, điểm sắc làm đẹp thêm mảnh trời xanh trên cao. Đặc biệt hai cây mai cổ thụ cuối công viên phía cầu Ông Đạo, cao ngất trời, đẹp ngất trời làm người yêu hoa sửng sốt.
Trên quãng đường này, không ai đi qua không dừng lại hay ngước mắt chiêm ngưỡng, không du khách nào có máy ảnh chịu bỏ qua cảnh sắc tuyệt vời hiếm hoi mà chỉ một hai tuần sẽ tàn phai, không còn lưu vết.
Có một con đường mới được đặt tên là Mai anh đào nhưng chẳng thấy cây đào nào cả. Đó là con đường khá dài chạy vòng từ Thung lũng Tình Yêu về phía Viện Nghiên cứu hạt nhân. Hai bên đường này là khu vực trồng rau, hoa, lúc nào cũng bốc mùi phân bón, thuốc trừ sâu nồng nặc. Loại sáng kiến nào đây thật trái cựa? Sao không đặt tên cho con đường cửa ngõ vào thành phố, nơi hoa đào đã được trồng khá nhiều, cứ gì lại phải lấy tên một ngày tháng mà nhiều người chẳng biết đó là ngày gì.
Có một nơi trồng hoa đào tập trung rất đẹp nhưng người ta lại không làm. Đó là công viên ngay phía dưới cầu Ông Đạo, nơi mới giải tỏa một phần của ấp Ánh Sáng, xây dựng khá công phu, trồng đủ thứ loại cây, có cầu, có ghế đá nhưng không mấy người đến vì trũng thấp và lối vào không thuận lợi. Nếu tất cả công viên này được trồng mai anh đào, chắc chắn Đà Lạt sẽ có một thung lũng hoa đào như mơ hớp hồn người nằm ngay giữa trung tâm thành phố. Dễ gì có thành phố nào được mang tên Xứ Hoa Đào. Chắc chắn đây sẽ là một thương hiệu du lịch, một tên gọi đầy quyến rũ đối với du khách bốn phương, nhất là đến mùa hoa rực rỡ như năm nay.
Mai anh đào. Chỉ một hai tuần thôi. Loài hoa nào mà chẳng chóng tàn nhưng vẻ đẹp của sắc hương trời đất vẫn còn đó, trong tâm tưởng, trong hoài niệm, trong sự thánh thiện của thiên nhiên và hồn người làm cho thế giới này bớt u ám và buồn đau.
Đan Vy
*
Abonneren op:
Posts (Atom)

